CHƯƠNG I TỔNG QUAN ĐỀ TÀI 1.1 Giới thiệu kết cấu liên hợp thép – bê tông và thanh thủy tinh polymer GFRP.1 Kết cấu liên hợp thép – bê tông. Kết cấu liên hợp thép – bê tông đã và đang được sử dụng khá hiệu quả ở nhiều nước trên thế giới và ở nước ta trong việc xây dựng các công trình nhà nhiều tầng và nhà khung nhịp lớn, do loại kết cấu này tận dụng được các ưu điểm riêng về đặc trưng cơ lí của cả 2 loại vật liệu phổ biến là thép và bê tông để tạo ra kết cấu có khả năng chịu lực và độ tin cậy cao, đồng thời tăng cường khả năng chống cháy. Công trình sử dụng giải pháp kết cấu liên hợp thép bê tông đáp ứng được công năng sử dụng cao, hiệu quả về kinh tế và đảm bảo yếu tố thẩm mỹ. Kết cấu liên hợp thép – bê tông (LHT-BT) là kết cấu mà thép chịu lực có dạng thép tấm, thép hình, thép ống liên kết (chốt hàn, thép góc hàn, neo, móc …) với bê tông cùng làm việc phát huy hiệu quả của hai loại vật liệu.
Sự làm việc hoàn toàn khác với BTCT và chỉ được thực hiện khi đảm bảo sự làm việc liên hợp giữa bê tông và thép kết cấu. Sàn liên hợp thường bao gồm các tấm tôn ở mặt dưới, bên trên nó là lưới cốt thép và bê tông đổ tại chỗ. Tấm tôn được cấu tạo theo nhiều hình dạng khác nhau, chúng có các sườn nổi nhằm tăng độ cứng uốn và giảm trọng lượng của bản sàn, tăng khả năng truyền lực giữa bê tông và tấm tôn, ngăn cản chuyển vị ngang của dầm thép trong quá trình lắp dựng. Các chốt liên kết được hàn sẵn với tấm tôn để tăng khả năng chịu cắt giữa bê tông và tấm tôn.
Bản sàn liên hợp thường có chiều dày không dưới 80mm và có thể dày đến 180mm, tùy theo yêu cầu tải trọng và khả năng chịu lực của bản sàn. Chiều dày của lớp bê tông nằm trên sóng tôn yêu cầu phải lớn hơn 40mm để tạo thành lớp bê tông bảo vệ cốt thép và đảm bảo khả năng chịu lực. Nhịp của sàn có thể từ 2.5 đến 4m, có khi lên đến 7m nếu có sử dụng các cột trụ chống đỡ trong quá trình thi công. Học viên: Lê Anh Sơn Trang 1 Trường Đại Học Mở TP.HCM GVHD: TS.
Lê Anh Tuấn Hình 1.1: Tháp thiên niên kỷ - Áo Hình 1.2: Quá trình xây dựng tháp thiên (nguồn: [24, tr18] [26, tr18) niên kỷ (nguồn: [24, tr19] [26, tr19) Hình 1.3: Hệ dầm sàn trong quá trình TC (nguồn: [Internet]) Học viên: Lê Anh Sơn Trang 2 Trường Đại Học Mở TP.HCM GVHD: TS. Lê Anh Tuấn Hình 1.4: Thi công chốt hàn (nguồn: [5, tr8] [26, tr22]) Hình 1.5: Trung tâm thương mại tài chính Bitexco tại Hồ Tùng Mậu – Hải Triều – Quận 1 – TP.HCM Học viên: Lê Anh Sơn Trang 3 Trường Đại Học Mở TP.HCM GVHD: TS. Lê Anh Tuấn Sàn liên hợp phải được thiết kế đảm bảo khả năng chịu lực trong suốt quá trình thi công và quá trình sử dụng khi mà bê tông đã đông cứng. Tấm tôn đóng vai trò ván khuôn trong quá trình thi công cần được tính toán về khả năng chịu các loại tải trọng do trọng lượng bản thân của bê tông ướt, lưới cốt thép, các thiết bị đổ tông và người thao tác.
Cần phải kiểm tra sàn liên hợp tại các vị trí nguy hiểm có thể xảy ra phá hoại do mômen lớn, trượt dọc, trượt ngang tại mặt tiếp xúc giữa tấm tôn và bê tông.2 Thanh thủy tinh polymer. Xuất phát từ nhu cầu cần có một loại vật liệu có thể thay thế một phần cốt thép cho các công trình xây dựng yêu cầu độ bền vững cao trong điều kiện môi trường khắc nghiệt mà không bị phá hoại do hiện tượng rỉ sét, vật liệu không có tính năng dẫn điện cho các công trình yêu cầu chống sét và cho phép sóng điện từ đi qua, thanh thủy tinh polymer – thanh cốt sợi thủy tinh gia cường Polymer - (GFRP) với tính năng chịu kéo cao hơn thép nhiều lần, trọng lượng nhẹ và không bị ăn mòn. GFRP bền vững trong môi trường muối, axit và các chất ăn mòn khác. Tại Mỹ, từ năm 1991 đã triển khai sản xuất thử nghiệm và ứng dụng thanh thủy tinh GFRP.
Tại Nhật Bản, thanh GFRP bắt đầu được sử dụng từ năm 1990 cho các công trình cầu giao thông. Các các nước thuộc Châu Âu, thanh GFRP cũng được nghiên cứu và phát triển từ những năm 1986. Sự ra đời của GFRP giúp kéo dài tuổi thọ của công trình, xây dựng các công trình ở những nơi có điều kiện môi trường khắc nghiệt. Thanh cốt sợi thủy tinh có thể dùng để thay thế cho một phần hay toàn bộ cốt thép trong cấu kiện, công trình xây dựng.
Học viên: Lê Anh Sơn Trang 4 Trường Đại Học Mở TP.HCM GVHD: TS. Lê Anh Tuấn Hình 1.6: Một vài hình ảnh về thanh thủy tinh gia cường Polymer GFRP Thép polymer có hiệu quả kinh tế cao khi dùng cho các công trình ngầm: các loại cọc đóng, cọc ép, cọc khoan nhồi và Barret - tường vây cho tầng hầm nhà cao tầng, sàn tầng hầm và sàn nhà. Các công trình giao thông và cầu cảng như sàn mặt cầu, mặt đường bê tông, trong xây dựng kết cấu hạ tầng có thể sử dụng với thép thường trong cùng một cấu kiện, trong đó thanh GFRP là thành phần chịu lực chính của kết cấu, chi tiết đai và cấu tạo có thể dùng thép thường. * Đặc tính kỹ thuật và phạm vi ứng dụng của cốt sợi GFRP Ưu điểm : - Độ bền kéo cao, cao hơn thép gấp 3 lần.
Điều này có nghĩa thanh GFRP có thể có diện tích tính toán nhỏ hơn cốt thép. Thanh GFRP có thể thay thế cốt thép với đường kính nhỏ hơn do độ bền kéo cao hơn. Việc thanh thế sẽ được thực hiện theo tải trọng kéo và mô đun đàn hồi. Trong trường hợp thay thế đúng tính tiết kiệm có thể đạt đến 30%.
- Khối lượng riêng thấp, khối lượng riêng của thanh GFRP ít hơn cốt thép 5 lần. Trong trường hợp thay thế tải trọng kéo như nhau khối lượng của khung cốt giảm tới 9 lần. - Không có tính điện từ, vì thanh GFRP là không có tính điện từ, thanh GFRP có thể được sử dụng trong các dự án khi mà yêu cầu không có tính điện từ. Chẳng hạn như phòng y tế với trang thiết bị y tế rất nhạy hoặc các trạm radar.
- Chống ăn mòn, sản phẩm thanh GFRP có khả năng chống ăn mòn, điều này tạo điều kiện để giảm lớp bảo vệ bê tông đến 15-20mm. Học viên: Lê Anh Sơn Trang 5 Trường Đại Học Mở TP.HCM GVHD: TS. Lê Anh Tuấn - Sức chịu mỏi rất cao, thanh GFRP có thể thay đổi phụ thuộc vào đơn đặt hàng từ 1- 400m, với đường kính nhỏ hơn 12mm thanh GFRP có thể cuộn lại giúp cho việc vận chuyển có tính hiệu quả và kinh tế hơn. - Đơn giản và nhanh chóng ứng dụng.
Khối lượng nhẹ, dễ dàng cắt và thanh GFRP bốc dở và lắp đặt cho khung gia cố. - Khả năng chịu kiềm. Nhiều công trình bảo vệ bờ biển, cầu, cảng và xưởng cạn bị ăn mòn quá nhiều cốt thép do ảnh hưởng của nước biển (kiềm). Thanh GFRP tránh được nhược điểm này.
Thanh GFRP có khả năng chống kiềm ăn mòn và không chịu ảnh hưởng của môi trường nước biển. - Hệ số giãn nở nhiệt tương tự như bê tông. Các vết nứt của lớp bê tông do ảnh hưởng của nhiệt độ thay đổi không thể xảy ra. - Về độ bền, thanh GFRP tăng tuổi thọ kết cấu bê tông 2-3 lần so với cốt thép, đặc biệt là trong khu vực chịu tiếp xúc với môi trường ăn mòn.
Tuổi thọ của bê tông thanh GFRP ít nhất là 80 năm. - Dẫn nhiệt, dẫn điện thấp. Nhược điểm : - Tính chất suy giảm cường độ nhanh trong điều kiện nhiệt độ cao khi tiếp giáp nguồn nhiệt, gặp hỏa hoạn. - Hạn chế trong việc không thể gia công tại công trường đòi hỏi phải tăng cường việc chuẩn bị, tính toán định hình ngay tại dây chuyền sản xuất.2 Tình hình nghiên cứu thanh GFRP và kết cấu liên hợp thép bê tông ở trong và ngoài nước.
Cốt sợi polymer (FRP) đã được sử dụng trong nhiều thập kỷ trong lĩnh vực hàng không, vũ trụ, ô tô và các lĩnh vực khác. Năm 1950 khi lần đầu tiên thanh GFRP được sử dụng trong kết cấu công trình dân dụng. Tuy nhiên, phải đến những năm 1970 thì FRP mới được xem xét cho các ứng dụng kỹ thuật kết cấu và hiệu suất vượt trội của nó so với thép bọc epoxy đã được công nhận. Kể từ đó, nhiều vật liệu FRP mới đã được phát triển với một loạt các hình thức khác nhau như dạng thanh, sợi, lưới hoặc hình dạng cấu trúc tiêu chuẩn.
Các vật liệu sợi bao gồm aramid, polyvinyl, carbon và sợi thủy tinh cải tiến. Học viên: Lê Anh Sơn Trang 6 Trường Đại Học Mở TP.HCM GVHD: TS. Lê Anh Tuấn Lịch sử phát triển của thanh GFRP bắt đầu từ ứng dụng cho phần bản mặt của các công trình cầu ô tô ở Bắc Mỹ thay thế cho cốt thép, nhằm hạn chế sự phá hoại cốt thép của thành phần clo xâm nhập vào bê tông khi người ta buộc phải rải muối lên mặt cầu đường để phá tan băng tuyết cho xe lưu thông những năm 1980, đến nay càng ngày càng nhiều ứng dụng của thanh GFRP được nghiên cứu và phát triển. Thanh cốt sợi thuỷ tinh gia cường polymer (GFRP) với tính năng chịu kéo cao hơn thép nhiều lần lại nhẹ và không bị gỉ.
GFRP bền vững trong môi trường muối, axit và các chất ăn mòn khác đã được nhắc đến ở Việt Nam từ những năm 70 của thế kỷ trước, nhưng chỉ như một ước vọng xa xôi, ai cũng nghĩ rằng nó chỉ dùng được ở vài ngành kỹ thuật sang trọng như hàng không vũ trụ hoặc các dự án quốc phòng. Thống kê sơ bộ có trên 30 quốc gia phát triển đã có nhiều nghiên cứu và sử dụng thanh GFRP, riêng tại Mỹ có trên 3000 doanh nghiệp với 250.000 lao động đang làm việc trong ngành nghề liên quan đến thanh GFRP, đã có nhiều Hiệp hội về sản xuất ứng dụng các dạng sản phẩm của thanh GFRP được ra đời, trong đó nổi tiếng nhất là ACMA (American composites manufacturers association) Việc nghiên cứu ứng dụng và phát triển kết cấu liên hợp thép bê tông dùng trong các lĩnh vực cầu đường, nhà cao tầng đã và đang được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm. Nhiều hội nghị khoa học về kết cấu liên hợp thép – bê tông ở tầm cỡ quốc tế đã được tổ chức.