CHƯƠNG 1 MỘT SÓ VẤN ĐÈ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CUA PHÁP LUẬT VE HOẠT ĐỘNG CHUNG MINH TRONG CAC VỤ AN XÂM PHAM SỨC KHỎE CON NGƯỜI 1. Hoạt động chứng minh trong tố tụng hình sự 1. Khái niệm, đặc diém hoạt động chứng minh trong tô tụng hình sự 1. Khái niệm hoạt động chứng minh trong tổ tụng hình sự Trong từ điển Tiếng Việt, “chứng minh” được hiểu là một hoạt động của con người thông qua sự vật hay lý lẽ dé nhằm xác định một van dé là đúng, là có thật [8, tr.
Theo nghĩa chung, chứng minh là một hình thức suy luận để “xác định có căn cứ đúng hay sai, có hay không, dùng suy luận logic vạch rõ diéu gì đó la đúng ” [10, tr. Trong TTHS, chứng minh thực chất cũng là một hoạt động của con người nhưng nó là hoạt động của các CQCTQTHTT, NCTQTHTTT thực hiện thông qua việc thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ từ giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử nhằm làm sáng tỏ những tình tiết khách quan của vụ án hình sự dé từ đó có thé xác định được tội phạm và xử lý người phạm tội. Theo quy định của Hiến pháp và pháp luật hiện hành, việc kết tội và buộc tội một chủ thé đều phải có căn cứ. Điều 31 Hiến pháp 2013 nêu rõ: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng mình theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” [13].
Quy định này cho thấy rõ, muốn buộc tội một người thì tội của người đó phải được chứng minh theo trình tự luật định. Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi năm 2017) tại Điều 2 cũng quy định rõ: “chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự” [14]. Tại Điều 13 BLTTHS cũng phi nhận: Khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toa án trong phạm vi nhiệm vụ quyên han cua mình có trách nhiệm khởi tố vụ án và áp dụng các biện pháp do Bộ luật nay quy định dé xác định tội phạm và xử lý người phạm tội. Không được khởi tố vụ án ngoài những căn cứ và trình tự do Bộ luật này quy định [15].
Như vậy, dé truy cứu trách nhiệm hình sự cũng như xác định tội phạm va xử ly người phạm tội đòi hỏi phải thông qua hoạt động chứng minh. Theo tác giả N guyén Văn Cừ: “hoạt động chứng minh là cách thức dựng lại một bức tranh thực tế của một hiện tượng đã xảy ra trong quá khứ, giải thích bản chất và soạn thảo những quyết định can thiết đối với hiện tượng do” [3, tr. Quá trình chứng minh được bắt đầu từ khi giải quyết nguồn tin về tội phạm cho đến khi giải quyết xong vụ án, được thực hiện thông qua hoạt động thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ đề từ đó đưa ra các kết luận chứng minh làm cơ sở cho các bước khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử dé có một kết quả cuối cùng là một bản án, quyết định truy tố đúng người, đúng tội. Bên cạnh việc tuân theo những quy luật nhận thức chung thì hoạt động chứng minh trong TTHS còn phải tuân theo các quy luật nhận thức đặc thù, đó là “hoạt động nhận thức sự thật vụ án diễn ra trong sự ràng buộc, chế ước bởi các quy định của pháp luật, mà trước hết là quy phạm của luật TTHS để điều chỉnh việc thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ” [4, tr.
Chứng minh trong quá trình giải quyết vụ án hình sự là việc sử dụng các chứng cứ dé làm sáng tỏ sự thật của vụ án [10, tr. Như vậy, qua việc phân tích trên, có thé đưa ra khái niệm hoạt động chứng minh trong tố tụng hình sự như sau: Hoạt động chứng mình trong tổ tụng hình sự là hoạt động tư duy logic và thực tiễn của chủ thể theo quy định của pháp luật tiễn hành bang việc thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ, làm rõ những van dé thuộc đối tượng chứng minh nhằm giải quyết dung đắn vụ án hình sự trên cơ sở xác định sự thật khách quan của vụ án. Đặc điểm của hoạt động chứng mình Hoạt động chứng minh có những đặc điểm đặc trưng nổi bật sau đây: Thứ nhất: Nội dung của hoạt động chứng minh là quá trình thu thập, kiểm tra đánh giá chứng cứ, cả ba hoạt động này thống nhất liên quan chặt chẽ với nhau và 10 bổ trợ cho nhau đảm bảo cho quá trình nhận thức về vụ án được nhanh chóng, chính xác, khách quan. Thứ hai: chứng minh trong TTHS là hoạt động tư duy logic, không chỉ tuân theo các quy luật khách quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng về nhận thức mà còn phải tuân thủ các quy định của BLTTHS.
Chính vì vậy, hoạt động có những đặc điểm riêng như bị ràng buộc về cách thức, phương pháp, trình tự, thủ tục về thời gian thu thập, kiểm tra, đánh giá và sử dụng chứng cứ. Trong quá trình chứng minh các CQCTQTHTT chỉ được tiến hành các biện pháp do pháp luật tố tụng hình sự quy định. Thứ ba: Trách nhiệm chứng minh trong TTHS thuộc về CQCTQTHTT, NCTQTHTT. Người bị buộc tội có quyền đưa ra đưa ra các chứng cứ chứng minh sự vô tội hoặc tình tiết giảm nhẹ TNHS cho mình nhưng không có nghĩa vụ buộc phải chứng minh là mình vô tội.
Đây chính là đặc điểm riêng biệt của hoạt động chứng minh trong TTHS so với chứng minh trong tố tụng dân sự, tố tụng hành chính. Các CQCTQTHTT có trách nhiệm chứng minh tội phạm, do đó, nếu không chứng minh được một người người là có tội thì phải suy đoán họ vô tội. Thứ tư: Hoạt động chứng minh trong TTHS được tiễn hành trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự, từ khởi tố, điều tra, truy tô đến xét xử và ở mỗi giai đoạn thì nhiệm vụ chứng minh được tiến hành khác nhau bởi các CQCTQTHTT, NCTQTHITT theo một trình tự thủ tục luật định. Tuy nhiên, ở mỗi giai đoạn tố tụng thì hoạt động chứng minh lại mang những đặc điểm riêng bắt nguồn từ nhiệm vụ khác nhau trong các giai đoạn cụ thể: Ở giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, hoạt động chứng minh nhằm xác định có hay không có căn cứ khởi t6 vụ án hình sự.
Trong giai đoạn này, theo quy định của Khoản 3, Điều 147 BLTTHS năm 2013 thì: Khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, cơ quan có thâm quyền có quyền tiến hành các hoạt động: Thu thập thông tin, tài liệu, đồ vật từ cơ quan, tô chức, cá nhân có liên quan để kiểm tra, xác minh nguồn tin; Khám nghiệm hiện trường; Khám nghiệm tử thi;Trưng cầu giám định, yêu cau định giá tài sản [15]. 11 Trong giai đoạn điều tra thì CQDT có trách nhiệm xác định một cách đầy đủ, khách quan, toàn diện, chính xác tất cả những sự kiện, tình tiết phải chứng minh trong vụ án hình sự. Các chứng cứ đều phải được CQDT phát hiện, thu thập, kiểm tra và đánh gia theo quy định của pháp luật TTHS. Trong giai đoạn truy tố: Quá trình chứng minh chỉ giới hạn trong phạm vi kiểm tra và đánh giá chứng cứ.
Ở giai đoạn này Viện kiểm sát có nhiệm vụ kiêm tra lại toàn bộ hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra, đồng thời yêu cầu CQDT cung cấp những tài liệu cần thiết liên quan đến vụ án nhằm xem xét để ban hành quyết định truy tố bị can bằng bản cáo trạng hoặc ban hành quyết định trả hồ sơ dé điều tra bổ sung, đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án. Trong giai đoạn xét xử sơ thâm: Mọi chứng cứ, tài liệu của vụ án do CQDT thu thập được đều được HĐXX đưa ra xem xét một cách công khai, khách quan, toàn diện đối với từng chứng cứ và tổng thé tất cả các chứng cứ và HDXX chỉ ra bản án, quyết định trên cơ sở những chứng cứ được xem xét tại phiên tòa. Trong giai đoạn xét xử phúc thầm: Quá trình chứng minh ở giai đoạn này nhằm xem xét kháng cáo, kháng nghị có căn cứ hay không có căn cứ để HDXX phúc thầm ban hành quyết định theo thầm quyên. Mục đích của chứng minh là để giải quyết đúng đắn, khách quan vụ án hình sự, cho nên quá trình chứng minh không kết thúc ngay vào thời điểm các tình tiết của vụ án được làm sáng tỏ mà nó còn được kiểm tra lại thông qua việc tranh tụng, mối quan hệ chế ước của các chủ thể chứng minh và chỉ kết thúc khi kết quả chứng minh được sử dụng để cơ quan có thâm quyền ra các quyết định cuối cùng giải quyết thực chất vụ án [17, tr.
Chính vì vậy, chứng minh trong TTHS có những đặc điểm riêng biệt và mọi vi phạm pháp luật của CQCTQTHTT đều có thé dẫn đến việc xử lý oan, sai, vi phạm các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, làm tổn hại uy tín của hoạt động tư pháp và đặc biệt là làm giảm lòng tin của nhân dân vào hiệu lực và sự công minh của pháp luật. Đối trợng chứng minh và những van đề can phải chứng minh Xác định đúng đối tượng chứng minh có ý nghĩa quan trọng vì nếu xác định 12 không đúng đối tượng chứng minh thì hoạt động điều tra, truy tố, xét xử sẽ bị chệch hướng, lãng phí công sức, tiền của vào việc xác minh, kiểm tra những tình tiết không có liên quan đến vụ án, nhưng lại bỏ sót những tình tiết có ý nghĩa quan trọng đối với việc làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án. Đối tượng chứng minh trong TTHS là tất cả những vấn đề mà luật TTHS quy định cần phải được làm rõ để xác định bản chất của vụ án hình sự và các tình tiết khác có liên quan, trên cơ sở đó các cơ quan có thâm quyền THTT ra bản án và quyết định tố tụng phù hợp trong quá trình giải quyết vụ án hình sự [2, tr. Đề chứng minh tội phạm trong TTHS thì vấn đề quan tâm hàng đầu chính là cấu thành tội phạm và các CQCTQTHTT, NCTQTHTT phải chứng minh được những nhóm vấn đề sau: Nhóm các tình tiết có ý nghĩa định tội, bao gồm các tình tiết thuộc yếu tố cầu thành cơ bản tội phạm (khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan của tội phạm), các tình tiết định khung tăng nặng, định khung giảm nhẹ.