Chương 1 TONG QUAN 1. Ø-ølucan Hiện nay, Ø-glucan là hợp chat có hoạt tính sinh học cao với kha năng tăng hoạt tính miễn dịch, khả năng làm lành vết thương, đặc biệt là hợp chất f-glucan có khả năng kháng khối u. Chính vì vay, việc tim kiếm các nguồn được thu nhận Ø-glucan dé mang hợp chat nay tạo thành những sản phẩm bồ sung kha năng miễn dịch cho cở thé động vật là điều rất cần thiết. Theo Mantovani (2008), Ø-glucan được tìm thấy từ nhiều nguồn khác nhau với các tính chất hóa học khác nhau và chúng thường có trong thành tế bào của vi khuẩn, nam, nam men, tảo và một số loài thực vật như lúa mach, yến mạch, v.
Nguồn nguyên liệu thường sử dụng dé tách chiết /đ-glucan (Nguồn: Huynh Trường Giang, 2020. Ø-giucan Tăng Cường Sức Đề Kháng Trên Động Vat Thúy Sản, Trường Đại học Can Thơ. Truy cập ngày 30/08/2022. <https://uv- vietnam.
vn/vi/glucan-tang-cuong-suc-de-khang-tren-dong-vat-thuy-san>) Theo báo cáo tình hình hoạt động ngành công nghiệp và thương mai của Bộ Công thương, năm 2018, Việt Nam hiện có hơn 129 cơ sở sản xuất bia ở hầu hết các tinh và chủ yếu tập trung chủ yêu ở các thành phố lớn với sản lượng bia ước tính lên đến 4,3 ty lí/năm. Trong số các nhà máy bia đang hoạt động có 23 nhà máy có tổng công suất 1,8 tỷ lí/năm, 6 nhà máy bia có tổng công suất 950 triệu lítnăm, 17 nhà máy có tổng công suất 800 triệu lít/năm, còn lại phần lớn các cơ sở khác sản xuất dưới 500 triệu lít/năm. Như vậy, trung bình lượng bã nắm men trong sản xuất bia chiếm tỷ lệ 1% và hàm lượng Ø-glucan trong đó chiếm khá cao (Hình 2). Vì thế, việc sử dụng nguồn bã thải nắm men bia dé tách chiết Ø-glucan làm nguyên liệu đề chế tạo các chế pham Ø-glucan Mw thấp tan trong nước ứng dụng trong nuôi tôm là rất hiệu quả và thiết thực.
Nguồn bã men bia có thé sử dụng dé tách chiết /Ø-glucan (Nguồn: Bích Ngọc, 2021. Tach chiết beta-glucan từ nam men bia không gây ô nhiễm môi trường. Truy cập ngày 15/12/2020.vn/vi_VN/web/guest/sang-che- viet/-/asset_publisher/XzSH81Y4WRq7/content/tach-chiet-beta-glucan-tu-nam-men-bia- khong-gay-o-nhiem-moi-truong>) 1. Cau trúc của Ø-glucan Cấu trúc của Ø-glucan cũng có sự khác nhau về đặc điểm của liên kết glycoside, về mức độ phân nhánh trong phân tử này, trọng lượng phân tử và độ hòa tan của chúng.
Một số Ø-glucan được tách từ ngũ cốc là polymer của D-glucose, liên kết 2 (1>3)-D-glucoside và nhánh Ø (1>4)-D-glucoside (Mantovani và ctv, 2008) (Hình 1. Trong nắm men, Ø-glucan là hợp chất cấu thành chủ yếu của thành tế bào. Năm 1998, kết quả nghiên cứu của Lipke và Ovalle cho thấy Ø-glucan chính là lớp nằm ở lớp giữa thành tế bào nam men nhằm duy trì tính ổn định hình dạng của tế bao, va (1>3)/(1> 6) Ø-glucan chiếm khoảng 50 - 60% thành tế bao. Long B-(1~-3)-linked Branch À ( F4 N b) ea om Glycoprotein-rich ele mg outer layer eae s © n „” Wo „% 20 Chitin/glucan ele 0 vò m À We matrix “ »1 Ê-(1-›6)-Branch point Af ot âSa fet membrane Senaa 55 g9 chitin 3 -— | Chitin synthase (2 6lwoprotein Es Si ae DU Giao : H) B1, 3-glucan synthase tà ra B1, 6-glucan gf? Mannan <—————— B-(1-›3Hinked Backbone.
————————> | Cell wall ly!enzymes £ B1, 1, 3-gh3-glucan Hình 1. Cau trúc (1-3), (1-6) /Ø-glucan và phân bố trong thành tế bảo nam men (Nguồn: Waszkiewicz-Robak B, (2013); Geoghegan va ctv, 2017) Kha năng tan cua Ø-glucan phụ thuộc vào mức độ polymer hóa và trong lượng phân tử của nó với độ polymer hóa trung bình là 1.500 (khối lượng phân tử tương ứng khoảng 240. Dựa vào tính tan của Ø-glucan, người ta chia ra thành 3 loại: (13) /đ-glucan không tan trong kiềm và acid, (1>3) Ø-glucan tan trong kiềm va (16) Ø-glucan (Mantovani và ctv, 2008). Các phương pháp cắt mạch Ø-glucan 1.
Oligo-Ø-glucan Dựa vào khả năng tăng cường miễn dịch tự nhiên bằng cách làm tăng số lượng bạch cầu trung tính và đại thực bảo tiêu diệt trực tiếp nguồn bệnh và thúc day tăng trưởng ở động vật từ đó nâng cao năng suất và chat lượng thương phẩm của Oligo- Ø-glucan năm 1997, Jamas đã sử dụng acid đề thủy phân Ø-glucan không tan tạo thành Ø-glucan tan trong nước hay oligo-Ø-glucan. Vào năm 2000, Yamaguchi va ctv đã thu được những phân tử có khối lượng phân tử thấp, dé tan trong nước, dé hấp thụ, thé hiện nhiều hoạt tính sinh học nồi bật như kích thích cây lúa sinh tổng hợp phytoalexin làm gián đoạn quá trình trao đổi chất hoặc ngăn cản sự sinh sản của mầm bệnh. Tuy nhiên, oligo-Ø-glucan chỉ hoạt hóa một cách chọn lọc, kích thích những yếu tố miễn dịch đáp ứng ban đầu nguồn bệnh mà không kích thích sự tạo ra những chất trung gian hóa học gây ra những phản ứng phụ bắt lợi cho cơ thể. Vì vậy, việc nghiên cứu chế tạo oligo-Ø-glucan dé ứng dụng vào lĩnh vực thuỷ sản nói chung và nuôi tôm thương pham nói riêng là rất cần thiết.
Các phương pháp cắt mạch Ø-glucan Có rất nhiều phương pháp được sử dụng để cắt mạch polymer nhằm tạo oligomer bằng các tác nhân oxi hóa mạnh hoặc enzyme. Mỗi phương pháp đều có ưu và nhược điểm nhất định như chỉ phí cho từng loại phương pháp, hiệu suất cắt mạch, thời gian tinh sạch sản phẩm và ảnh hưởng của các chất thải trong quá trình cat mach đối với môi trường. Phương pháp hóa học Năm 1997, Jamas đã tiến hành cắt mạch Ø-glucan tách chiết từ nắm men bằng acid formic 98%. Năm 1998, Dallies đã dùng acid sulfuric (H2SO4) 72% và acid clohydride (HCl) 2M dé thủy phân /-glucan.
Như vậy, dưới tác dụng của acid như HCI, H2SOu, v. các liên kết glycoside bị thủy phân va tạo thành các polymer có mạch ngắn hơn. Mặc dù vậy, hạn chế của việc sử dụng phương pháp chính là khó kiểm soát được quá trình cắt mạch nên hiệu suất của quá trình cắt mạch phụ thuộc nồng độ các chat và điều kiện phản ứng, có thé tồn hại đến cau trúc nguyên thủy của polymer, chi phí cao, các chất độc hại được thải ra gây ô nhiễm môi trường. Bên cạnh đó, sản phâm sau khi cắt mạch phải tinh chế lai (Byun và ctv, 2008).
Phương pháp sinh học Nhận thấy các hạn chế của phương pháp hóa học năm 2008, Duan và ctv đã phát hiện ra rằng /-glucan sau khi thủy phân nhờ enzyme /Ø-1,3-glucanase có khả năng hòa tan trong nước được cải thiện trong quá trình thủy phân Ø-1,3-glucan chiết xuất từ nam men. Việc sử dụng enzyme glucanase có thé giảm mức độ phá hủy cau trúc, giảm trọng lượng phân tử, tăng cường độ hòa tan, hoạt tính sinh học và chức năng của /Ø-glucan thủy phân. Tuy nhiên, hạn chế của phương pháp này chính là đòi hỏi dùng enzyme đặc hiệu cho từng phản ứng thủy phân như enzyme tái tổ hợp Ø- 1,3-glucanase chỉ thủy phân (13) Ø-glucan mà không tham gia vào quá trình thủy phân (16) Ø-glucan (Dallies và ctv, 1998). Ngoài ra, trong quá trình cắt mach bằng phương pháp này thường khó kiểm soát, chi phí cao.
Phương pháp chiếu xạ Dé mang lại các chế pham f-glucan có giá trị kinh tế cao mà không gây ảnh hưởng môi trường xung quanh lại đễ đàng áp dụng trên quy mô, nhiều nghiên cứu đã ứng dụng nguồn bức xa gamma phát ra từ đồng vi Co-60 dé cắt mạch các polysaccharide như tinh bột, cellulose. Phương pháp này được đánh giá cao bằng việc dé dàng điều chỉnh khối lượng phân tử polysaccharide thông qua việc tính toán và điều chỉnh liều xạ thích hợp, sản phẩm tạo thành không cần phải tinh chế, hiệu suất cắt mạch cao, không phụ thuộc vào các yếu tố như nhiệt độ, điều kiện ngoại cảnh, v. Năm 2008, khi Byun tiến hành chiếu xạ Ø-glucan bằng phương pháp này thu được kết quả cắt mạch với hiệu quả cao và hàm lượng Ø-glucan tan thu được cũng tăng lên đến 30,34% sau khi được chiếu xa. Theo Bohn và BeMiller (1995), những phân tử có Mw thấp hơn 50 kDa được xem là có Mw thấp.
Ø-glucan ban đầu với Mw cao (178 kDa) sau khi chiếu xạ với liều 50 kGy thì Mw còn khoảng 25 kDa. Như vậy, kết qua của nhóm nghiên cứu này cho thấy /-glucan sau chiếu xạ có hoạt tính cao hơn Ø-glucan không chiếu xạ. Cụ thé là, trong in vitro, Ø-glucan sau khi được chiếu xạ có số lượng tế bào miễn dịch tăng hơn 18% so với /đ-glucan không chiếu xạ. Trong in vivo, hoạt tính tăng cường miễn dich của Ø-glucan cao hơn, số lượng tế bào miễn dich trong co thé chuột khi cho sử dụng Ø-glucan được chiếu xạ tăng hơn 74% so với chuột sử dụng Ø-glucan không chiếu xạ.
Như vậy, chiếu xạ Ø- glucan sẽ là hướng đi mới giúp tạo ra các chế phẩm Ø-glucan có giá trị cao mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn. Phương pháp chiếu xạ kết hợp xử lý hoá học Sự kết hợp giữa phương pháp chiếu xạ đan xen với xử lý hóa học hay ứng dụng hiệu ứng đồng vận (synergic) bằng cách sử dụng kết hợp HaO› đồng thời trong quá trình chiếu xạ đã rút ngắn được thời gian chiếu xạ cũng như giá thành của sản phẩm chiếu xạ cũng có sự thay đôi tạo điều kiện thuận lợi cho việc đưa các sản phẩm này vào sử dụng trong thị trường hiện nay. Trong đó phải kế đến nghiên cứu của Luan và ctv, 2012, các loại polymer tự nhiên như alginate giúp giảm bớt liều xạ từ 5 - 10 lần cũng như thời gian chiêu xạ được rút ngắn rât nhiêu. Như vậy sự có mặt của H2O2 trong dung dich chiếu xạ đã làm tăng hiệu quả cắt mach.
Quá trình này có thé được diễn ra như sau: Tia y HạO; “%Ÿ e4, H*, H2O2, Hạ, H30*, *OH (1) HO. “3 2°OH (2) eaq + HoO2 > OH +*OH (3) H* + H202—> HạO + *OH (4) Trong quá trình chiếu xa, H* và eaq có khả năng sẽ phan ứng tiếp với H2O2. Các phản ứng (2), (3) và (4) đã góp phần gia tang số lượng các sốc °OH tự do, là tác nhân tham gia cắt các liên kết glycoside của Ø-glucan trong dung dịch. Chính vì vậy, ưu điểm của phương pháp này là tăng khả năng cắt những liên kết polymer đặc biệt là liên kết glycoside nhằm nâng cao được hiệu suất cắt mạch, việc sử dụng nồng độ H2Q> thấp, liều chiếu xạ cũng thấp không làm phá vỡ cấu trúc của polymer khi chiếu xạ, đặc biệt là các loại polymer không tan nước và đòi hỏi phải chiếu xạ liều cao.
Ứng dụng của Ø-glucan Hiện nay, việc tập trung nghiên cứu các sản pham thị trường với các thành phần chức năng nhằm cung cấp dinh dưỡng cũng như tăng cường sức khỏe đã và đang là van dé đáng được quan tâm hang dau. Với nhiều hoạt tinh sinh học nổi bật Ø-glucan ngày càng được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi nhiều hơn trong các lĩnh vực. Trong thực phẩm, Ø-glucan được sử dụng như một chat phụ gia.