CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG TẢI ĐIỆN XOAY CHIỀU LINH HOẠT (FACTS) 1. Giới thiệu chung: Sự phát triển nhanh chóng trong nhu cầu sử dụng điện, cùng với nhu cầu giảm chi phí năng lượng dẫn đến việc xây dựng và phát triển các nguồn phát ở xa trung tâm phụ tải lớn, chẳng hạn như các nhà máy thủy điện xây dựng ở nguồn nước nơi có cột áp và lưu lượng dòng chảy lớn, các nhà máy nhiệt điện xây dựng gần nguồn nhiên liệu, các nhà máy địa nhiệt và thủy triều chỉ có thể xây dựng ở một số địa điểm, còn nhà máy điện hạt nhân thì được xây dựng xa khu đô thị. Do đó cần thiết phải xây dựng hệ thống truyền tải điện để đưa điện từ nguồn phát đến trung tâm phụ tải. Hơn nữa, để tăng cường độ tin cậy của hệ thống, các đường dây truyền tải cần có độ dự trữ cao, có thể liên kết hệ thống điện các miền, các khu vực với nhau.
Hệ thống truyền tải điện thường là 3 pha xoay chiều, vận hành ở các cấp điện áp khác nhau (thông thường là 230kV trở lên). Với yêu cầu ngày càng tăng về công suất và khoảng cách truyền tải, các cấp điện áp truyền tải cũng ngày càng tăng lên để giảm tổn thất. Khả năng tải của hệ thống truyền tải phụ thuộc vào các yếu tố sau: - Giới hạn về nhiệt - Giới hạn về cách điện - Giới hạn về ổn định Các giới hạn này xác định công suất tối đa truyền tải được mà không gây nguy hiểm đến các Nguyễn Thị Hoài Thu – Lớp CH ngành Mạng và Hệ thống điện 2006-2008 Luận văn Cao học 2 đường dây truyền tải và các thiết bị điện. Về cơ bản, giới hạn của công suất truyền tải có thể giải quyết bằng việc xây dựng thêm các tuyến truyền tải mới.
Tuy nhiên điều này dẫn đến tốn kém về vốn xây dựng, thời gian thi công và mất quỹ đất cho các hành lang an toàn của tuyến đường dây. Vì thế khi hệ thống điện phát triển nhanh đòi hỏi những công nghệ mới để khai thác triệt để các khả năng của hệ thống điện hiện có mà không ảnh hưởng đến sự an toàn của hệ thống. Để đáp ứng nhu cầu này, các nghiên cứu về thiết bị điều chỉnh linh hoạt hệ thống truyền tải điện xoay chiều FACTS (Flexible AC Transmission Systems) đã được tiến hành vào cuối năm 1980 nhằm giải quyết 2 vấn đề chính là nâng cao khả năng truyền tải của các hệ thống truyền tải và giữ công suất trong khoảng giới hạn đã định trước. Với sự phát triển vượt bậc trong lĩnh vực điều khiển tự động, đặc biệt là kỹ thuật điện tử công suất như thyristor công suất lớn đã tạo ra các bộ điều chỉnh cho phép điều khiển bù công suất phản kháng gần như tức thời, ngăn cản dao động để ổn định điện áp một cách nhanh chóng.
Công nghệ FACTS là duy nhất có đủ khả năng điều khiển nhanh một cách linh hoạt công suất tác dụng và phản kháng của hệ thống điện. Các thiết bị FACTS khác nhau có các thông số điều khiển khác nhau và có các mô hình vật lý khác nhau để điều khiển công suất. Để điều khiển công suất một cách có hiệu quả trong hệ thống điện, cần xem xét đến các yếu tố giới hạn khả năng truyền tải và xác định rõ lợi ích đạt được khi áp dụng các thiết bị điều khiển FACTS. Mối quan hệ các thông số điều khiển trên đường dây truyền tải Để xem xét đến sự thay đổi của các thông số chế độ của HTĐ liên quan đến các thông số điều khiển của thiết bị FACTS, ta xem xét ví dụ một đường dây truyền tải đơn giản trên hình 1.
Nguyễn Thị Hoài Thu – Lớp CH ngành Mạng và Hệ thống điện 2006-2008 Luận văn Cao học 3 Hình 1.2: Điều khiển dòng công suất trên đường dây truyền tải. Hệ thống 2 máy đơn giản b. Đồ thị vector khi dòng điện vuông góc với điện áp đường dây. Đồ thị vector dòng công suất tác dụng và phản kháng.
Đường cong công suất P với góc lệch δ trong các trường hợp X khác nhau. Điều chỉnh biên độ điện áp làm thay đổi công suất phản kháng. Điện áp bơm vào vuông góc với dòng điện đường dây làm thay đổi công suất phản kháng. Nguồn điện áp bơm vào dọc đường dây.
Nguyễn Thị Hoài Thu – Lớp CH ngành Mạng và Hệ thống điện 2006-2008 Luận văn Cao học 4 Nút 1 và 2 là thanh cái của các trạm biến áp lớn hoặc được nối với các nguồn, để đơn giản giả thiết là các nút có công suất vô cùng lớn. Hai nút được nối với nhau thông qua một đường dây truyền tải chỉ có điện kháng X (bỏ qua điện trở và dung dẫn của đường dây). E1 và E2 là biên độ của điện áp tại các nút tương ứng và góc lệch là δ. EL là véc tơ điện áp giáng trên điện kháng X của đường dây.
EL Biên độ dòng điện trên đường dây nhận được theo công thức I = và lệch X với E L góc 900. Dòng điện chạy trên đường dây có thể được điều khiển bằng việc điều khiển EL hoặc X hoặc δ. Nếu góc lệch điện áp giữa hai nút nhỏ, dòng điện gần như đặc trưng cho dòng công suất tác dụng. Việc tăng hoặc giảm điện kháng của đường dây có hiệu quả lớn đối với việc điều khiển dòng công suất tác dụng.
Bởi vậy xét về chi phí thì điều khiển điện kháng, mà thực chất là điều khiển dòng điện là cách điều khiển dòng công suất hiệu quả nhất. Có thể sử dụng các cuộn kháng có điều khiển để điều khiển công suất truyền tải và/ hoặc điều khiển góc lệch để nâng cao tính ổn định của hệ thống.2c chỉ ra mối quan hệ theo đồ thị véc tơ giữa các dòng điện tác dụng và phản kháng cùng với mối liên hệ với điện áp tại hai điểm nút. Giả thiết rằng, E1 và E2 là cường độ điện trường bên trong của 2 nguồn quy đổi mô tả 2 hệ thống và điện kháng X bao gồm cả điện kháng bên trong của 2 nguồn. Khi đó ta có: Thành phần tác dụng của dòng điện tại nút 1 là: Ip1 = (E2 sin δ)/X Thành phần phản kháng của dòng điện tại nút 1 là: Iq1 = (E1 - E2cosδ)/X Bởi vậy công suất tác dụng tại đầu nút 1 là: Nguyễn Thị Hoài Thu – Lớp CH ngành Mạng và Hệ thống điện 2006-2008 Luận văn Cao học 5 P 1 = E1(E2sin δ)/X Công suất phản kháng tại đầu nút 1 là: Q1 = E1 (E1 - E2cosδ)/X (1.1) Tương tự thành phần tác dụng của dòng điện tại nút 2 là: Ip2 = (E1 sin δ)/X Thành phần phản kháng của dòng điện tại nút 2 là: Iq2 = (E2 - E1cosδ)/X Bởi vậy công suất tác dụng tại đầu nút 2 là: P 2 = E2(E1sin δ)/X Công suất phản kháng tại đầu nút 2 là: Q2 = E2 (E2 - E1cosδ)/X (1.2) P1 cũng như P2 đều bằng P= E1 E2 sinδ/X (1.3) Vì đã giả thiết rằng không có tổn thất công suất tác dụng trên đường dây nên khi X thay đổi sẽ làm cho P, Q1 và Q2 thay đổi theo như (1.2d cho thấy công suất tác dụng tăng tới cực đại khi góc δ tăng tới 900.
Sau đó công suất giảm tương ứng với góc δ tăng và công suất giảm đến 0 khi δ = 1800. Nếu không điều khiển với tốc độ cao các thông số như E1, E2, E1 -E2, X và δ, đường dây truyền tải chỉ có thể được sử dụng tốt với góc dưới 900. Việc tăng và giảm X sẽ làm tăng và giảm độ cao của đặc tính công suất tác dụng theo góc lệch δ. Đối với dòng công suất truyền tải, sự thay đổi X sẽ tương ứng với sự thay đổi góc lệch giữa điện áp hai điểm đầu và cuối của đường dây truyền tải.
Công suất (dòng điện) có thể cũng được điều khiển bởi việc điều chỉnh điện áp E 1 hoặc E2 như trên hình 1. Tuy nhiên với sự thay đổi của E1 thì hiệu điện áp E 1-E2 không thay đổi nhiều còn góc pha của nó thì thay đổi đáng Nguyễn Thị Hoài Thu – Lớp CH ngành Mạng và Hệ thống điện 2006-2008 Luận văn Cao học 6 kể. Điều đó có nghĩa rằng, việc thay đổi điện áp E1 hoặc E2 có ảnh hưởng nhiều đến công suất phản kháng hơn là công suất tác dụng. Dòng điện và cả công suất cũng có thể thay đổi bởi nguồn điện áp dọc đường dây.
Như trên hình 1.2f khi véc tơ điện áp bơm vào vuông góc với dòng điện (mà nó gần như trùng với véc tơ hiệu điện áp), nó trực tiếp ảnh hưởng đến giá trị hiệu dụng của véc tơ dòng điện. Với góc lệch điện áp nhỏ, nó ảnh hưởng lớn tới công suất tác dụng. Điện áp dọc được bơm vào có thể là một véc tơ trùng về biên độ và góc pha với điện áp đường dây (hình 1. Ta có thể thấy rằng với sự thay đổi biên độ và góc pha của nguồn điện áp nối tiếp thì cả thành phần tác dụng và phản kháng của dòng điện cũng bị ảnh hưởng.
Phương pháp sử dụng nguồn áp có ứng dụng quan trọng trong các thiết bị điều khiển FACTS. Với phân tích ở trên hình 1.2 ta có thể thấy một vài điểm cơ bản của các thông số liên quan đến khả năng điều khiển dòng công suất: • Có thể điều khiển điện kháng đường dây X (ví dụ dùng tụ bù dọc có điều khiển bằng thyristor) để điều khiển dòng điện một cách hiệu quả. • Khi góc lệch điện áp giữa hai nút không lớn (thông thường ở các đường dây truyền tải) thì việc điều khiển điện kháng X dùng để điều khiển dòng công suất tác dụng truyền tải trên đường dây. • Điều khiển góc lệch điện áp δ (ví dụ thiết bị điều chỉnh góc pha) là công cụ hữu ích để điều khiển dòng điện và cả dòng công suất tác dụng trong trường hợp góc lệch điện áp giữa hai nút không lớn.
• Bơm nguồn điện áp dọc đường dây và vuông góc với véc tơ dòng điện có thể làm tăng hoặc giảm biên độ dòng điện. Đây là một phương pháp hữu ích trong việc điều khiển dòng điện đường dây và cả công suất tác dụng khi góc lệch điện áp không lớn. Nguyễn Thị Hoài Thu – Lớp CH ngành Mạng và Hệ thống điện 2006-2008 Luận văn Cao học 7 • Bơm nguồn điện áp dọc đường dây và cùng góc lệch với véc tơ điện áp nút có thể điều khiển được biên độ và góc của véc tơ dòng điện chạy trên đường dây.