Luận văn tốt nghiệp về hệ thống thông tin di động 4G LTE

Đề tài khảo sát hệ thống thông tin di động 4G LTE với dữ liệu thực nghiệm, giải pháp cụ thể cho bài toán thực tế chuyên ngành tron

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

đồ án tốt nghiệp

2019

140
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN DI ĐỘNG & GIỚI THIỆU VỀ MẠNG 4G LTE

2. CHƯƠNG 2: KIẾN TRÚC MẠNG VÀ GIAO THỨC

3. CHƯƠNG 3: TRUY CẬP VÔ TUYẾN TRONG LTE

4. CHƯƠNG 4: LỚP VẬT LÝ LTE

5. CHƯƠNG 5: CÁC THỦ TỤC TRUY NHẬP

Tóm tắt

I. Tổng quan về hệ thống thông tin di động và giới thiệu về mạng 4G LTE

Hệ thống thông tin di động đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển từ 1G đến 4G. Công nghệ 4G được xem là bước tiến lớn trong lĩnh vực viễn thông, với khả năng cung cấp tốc độ internet di động nhanh hơn gấp nhiều lần so với các thế hệ trước. Hệ thống thông tin di động thế hệ thứ nhất (1G) chủ yếu phục vụ cho việc gọi điện thoại, trong khi 2G đã bắt đầu hỗ trợ các dịch vụ nhắn tin và dữ liệu. Đến 3G, tốc độ truyền tải dữ liệu đã được cải thiện đáng kể, cho phép người dùng truy cập internet với tốc độ cao hơn. LTE (Long Term Evolution) là công nghệ cốt lõi của 4G, mang lại khả năng truyền tải dữ liệu nhanh chóng và ổn định hơn. Theo một nghiên cứu, tốc độ của mạng 4G có thể đạt từ 100 Mbps đến 1 Gbps, cho phép người dùng trải nghiệm các dịch vụ như video HD, hội nghị truyền hình và chơi game trực tuyến một cách mượt mà.

1.1. Công nghệ 4G và sự phát triển của nó

Công nghệ 4G được phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dùng về băng thôngtốc độ truyền tải dữ liệu. Nâng cấp mạng di động từ 3G lên 4G không chỉ đơn thuần là tăng tốc độ, mà còn cải thiện độ tin cậy và khả năng kết nối. Tiêu chuẩn 4G được định nghĩa bởi ITU-R, yêu cầu tốc độ tối thiểu là 100 Mbps cho di động và 1 Gbps cho cố định. Sự phát triển của công nghệ viễn thông đã tạo ra một cuộc cách mạng trong cách thức mà người dùng tương tác với công nghệ, từ việc sử dụng các ứng dụng di động đến việc truy cập internet mọi lúc mọi nơi.

II. Kiến trúc mạng và giao thức trong LTE

Kiến trúc mạng LTE được thiết kế để tối ưu hóa hiệu suất và khả năng mở rộng. Hệ thống thông tin di động LTE bao gồm nhiều thành phần chính như cổng phục vụ (S-GW), cổng mạng dữ liệu gói (P-GW)máy chủ thuê bao thường trú (HSS). Các giao thức trong LTE được xây dựng để đảm bảo tính liên tục và hiệu quả trong việc truyền tải dữ liệu. Giao thức trạng tháichuyển tiếp trạng thái là những yếu tố quan trọng trong việc duy trì kết nối ổn định cho người dùng. Hệ thống cũng hỗ trợ tính di động liên tục, cho phép người dùng di chuyển mà không bị gián đoạn trong quá trình sử dụng dịch vụ.

2.1. Các thành phần chính trong kiến trúc LTE

Các thành phần trong kiến trúc LTE bao gồm thiết bị người dùng (UE), cổng phục vụ (S-GW)cổng mạng dữ liệu gói (P-GW). Mỗi thành phần đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng dịch vụtính khả dụng của mạng. PCRF (Chức năng chính sách và tính cước tài nguyên) giúp quản lý tài nguyên mạng, trong khi HSS lưu trữ thông tin về người dùng và các dịch vụ mà họ đăng ký. Sự kết hợp giữa các thành phần này tạo ra một hệ thống mạnh mẽ, có khả năng xử lý hàng triệu kết nối đồng thời.

III. Truy cập vô tuyến trong LTE

Truy cập vô tuyến trong LTE sử dụng công nghệ OFDMA (Orthogonal Frequency Division Multiple Access) cho đường xuống và SC-FDMA (Single Carrier Frequency Division Multiple Access) cho đường lên. Kỹ thuật đa truy nhập này cho phép tối ưu hóa băng thông và giảm thiểu độ trễ trong quá trình truyền tải dữ liệu. Các băng tần được hỗ trợ trong LTE rất đa dạng, giúp mở rộng khả năng phủ sóng và đáp ứng nhu cầu sử dụng của người dùng. Kỹ thuật MIMO (Multiple Input Multiple Output) cũng được áp dụng để nâng cao hiệu suất truyền tải, cho phép sử dụng nhiều ăng ten để cải thiện chất lượng tín hiệu.

3.1. Kỹ thuật OFDMA và SC FDMA

OFDMA cho phép chia nhỏ băng tần thành nhiều kênh con, giúp tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên tần số. Kỹ thuật này đặc biệt hiệu quả trong môi trường có nhiều người dùng và tín hiệu nhiễu. SC-FDMA, ngược lại, được sử dụng cho đường lên, giúp giảm thiểu độ phức tạp trong thiết bị đầu cuối. Sự kết hợp giữa OFDMA và SC-FDMA tạo ra một hệ thống truy cập vô tuyến linh hoạt và hiệu quả, đáp ứng tốt nhu cầu ngày càng cao của người dùng về tốc độ internet di động.

IV. Lớp vật lý LTE

Lớp vật lý trong LTE chịu trách nhiệm cho việc truyền tải dữ liệu giữa thiết bị người dùng và mạng. Các kênh truyền tải được ánh xạ tới các kênh vật lý, đảm bảo rằng dữ liệu được truyền tải một cách chính xác và hiệu quả. Kênh điều khiểnkênh dữ liệu được phân chia rõ ràng, giúp quản lý và điều phối lưu lượng dữ liệu một cách hiệu quả. Các thủ tục báo hiệu cũng được thiết lập để đảm bảo rằng các thiết bị có thể giao tiếp với nhau một cách mượt mà.

4.1. Các kênh truyền tải và ánh xạ

Các kênh truyền tải trong LTE bao gồm kênh điều khiển và kênh dữ liệu, mỗi kênh có chức năng riêng biệt. Kênh điều khiển đảm bảo rằng các tín hiệu điều khiển được truyền tải một cách chính xác, trong khi kênh dữ liệu chịu trách nhiệm cho việc truyền tải thông tin người dùng. Việc ánh xạ các kênh này tới các kênh vật lý giúp tối ưu hóa hiệu suất truyền tải và giảm thiểu độ trễ, từ đó nâng cao trải nghiệm người dùng.

V. Các thủ tục truy nhập

Các thủ tục truy nhập trong LTE bao gồm nhiều bước từ việc dò tìm ô đến việc truy nhập ngẫu nhiên. Quá trình này đảm bảo rằng người dùng có thể kết nối với mạng một cách nhanh chóng và hiệu quả. Các bước này bao gồm việc truyền dẫn phần mở đầu truy nhập ngẫu nhiên, đáp ứng truy nhập và nhận dạng thiết bị đầu cuối. Mỗi bước đều được thiết kế để tối ưu hóa thời gian kết nối và đảm bảo rằng người dùng có thể truy cập dịch vụ một cách mượt mà.

5.1. Quy trình truy nhập ngẫu nhiên

Quy trình truy nhập ngẫu nhiên là một phần quan trọng trong việc kết nối người dùng với mạng. Các bước trong quy trình này bao gồm việc truyền dẫn phần mở đầu, đáp ứng truy nhập và nhận dạng thiết bị. Mỗi bước đều được tối ưu hóa để giảm thiểu thời gian chờ đợi và đảm bảo rằng người dùng có thể kết nối với mạng một cách nhanh chóng. Điều này đặc biệt quan trọng trong môi trường có mật độ người dùng cao, nơi mà việc kết nối nhanh chóng là rất cần thiết.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN DI ĐỘNG & GIỚI THIỆU VỀ MẠNG 4G LTE 1.Tổng quan về hệ thống thông tin di động: Các hệ thống thông tin di động đầu tiên ra đời từ những năm 1920, khi đó điện thoại di động chỉ được sử dụng như là các phương tiện thông tin giữa các đơn vị cảnh sát ở Mỹ. Ngày 17/6/1946 hãng AT&T và Southwestern Bell giới thiệu thông tin di động đầu tiên ở Mỹ, hệ thống đầu tiên này gồm 6 kênh ở băng tần 150 MHz, là hệ thống bán song công, có độ rộng kênh là 60 KHz (gấp 2 lần kênh thông tin di động tương tự ngày nay, trong khi đó CDMA là 1.25 MHz và WCDMA là 5MHz). Khi hệ thống này ra đời và được ứng dụng vào các thành phố lớn ở Mỹ, thì nhu cầu người sử dụng vượt quá dung lượng, nên độ rộng kênh được giảm xuống còn 30 KHz. Các hệ thống di động đầu tiên này ít tiện lợi và dung lượng rất thấp so với các hệ thống hiện nay.

Hệ thống thông tin di động thế hệ thứ nhất ( 1G) Những năm cuối thập niên 70, hệ thống điện thoại di động thế hệ thứ nhất được phát triển, đó là hệ thống thông tin di động tương tự sử dụng phương pháp đa truy cập phân chia theo tần số FDMA (Frequency Division Multiple Access) cung cấp những dịch vụ chủ yếu là thoại. Thế hệ mạng điện thoại di động đầu tiên sử dụng các chuyển mạch tương tự, là hệ thống truyền tín hiệu tương tự. Có thể kể đến như NMT (Nordic Mobile Telephone) của công ty Ericsson (Thụy Điển); hai versions đang tồn tại là NMT450 hoạt động tại 450 MHz band và NMT900 hoạt động tại 900 MHz band. AMPS (Advanced Mobile Phone System) là hệ thống điện thoại di động tổ ong do AT&T và công ty Motorola (Mỹ) đề xuất sử dụng năm 1982.

Các hệ thống kể trên là các hệ thống 1G. Tuy nhiên các hệ thống 1G này có những hạn chế như sau: phân bố tần số rất hạn chế, dung lượng thấp, tiếng ồn khó chịu và nhiễu xảy ra khi di 15 Luan van động chuyển dịch trong môi trường phađing đa tia, không đáp ứng được các dịch vụ mới hấp dẫn đối với khách hàng, không cho phép giảm đáng kể giá thành của thiết bị di động và cơ sở hạ tầng, không đảm bảo tính bí mật của các cuộc gọi, không tương thích giữa các hệ thống khác nhau, đặc biệt ở châu Âu, làm cho thuê bao không thể sử dụng được máy di động của mình ở nước khác.1 liệt kê một vài thông số chính của các hệ thống di động: Tham số AMPS NMT 900 NMT 450 Băng tần 800 MHz 900 MHz 450 – 470 MHz Khoảng cách kênh 30 KHz 25 / 12.5 KHz 25 / 29 KHz Khoảng cách song công 45 MHz 45 MHz 10 MHz Các kênh 832 1000 ( 1999) 180 / 225 Loại điều chế FM FM FM Kế hoạch ô 4, 7, 12 4, 9, 12 7 Điều chế kênh điều FSK FFSK FFSK khiển Độ lệch kênh điều khiển 8 KHz 3.5 MHz Mã kênh điều khiển Manchester NRZ NRZ Dung lượng kênh điều 77000 13000 13000 khiển Tốc độ truyền dẫn 10 Kbps 1.1 Các thông số của một vài hệ thống thông tin di động Nhược điểm của thế hệ 1G là dung lượng thấp, xác suất rớt cuộc gọi cao, khả năng chuyển cuộc gọi không tin cậy, chất lượng âm thanh kém, không có chế độ bảo mật. Hệ thống thông tin di động thế hệ thứ hai ( 2G) Khi số lượng thuê bao di động tăng lên nhanh chóng, hệ thống thông tin di động thứ nhất sử dụng các bộ chuyển mạch tương tự đã không còn đáp ứng được nữa. Các nhà mạng cần phải có biện pháp nâng cao dung lượng của mạng, chất lượng các cuộc đàm thoại cũng như cung cấp thêm một số lượng dịch vụ bổ sung cho mạng.

Để giải quyết vấn đề này các nhà nghiên cứu áp dụng việc số hóa hệ thống điện thoại di động cùng với các kỹ thuật đa truy nhập mới, và điều này dẫn tới sự ra đời của hệ thống điện thoại di động thế hệ thứ 2 hay còn gọi tắt là 2G. Hệ thống 2G dựa trên nền tảng công nghệ kỹ thuật điện tử số, ứng dụng kỹ thuật đa truy cập phân chia theo thời gian (TDMA - Time Division Multiple Access) và đa truy nhập phân chia theo mã (CDMA – Code Division Multiple Access). Hệ thống này có nhiều ưu điểm vượt trội hơn hệ thống thông tin di động thế hệ thứ nhất vì ngoài dịch vụ thoại truyền thống. Hệ thống 2G còn cung cấp thêm một số dịch vụ truyền dữ liệu, tuy tốc độ còn thấp.

Một số hệ thống di động 2G tiêu biểu như GSM (Global System for Mobile Communication), IS-95 (Iterim Standard-95). Trong đó GSM được sử dụng rộng rãi nhất, hệ thống thông tin di động GSM đầu tiên được triển khai vào khoảng năm 1991. GSM kết hợp kỹ thuật truy nhập TDMA và FDMA và sử dụng hai dải tần số xung quanh 900 MHz, (hình 1. Băng tần đầu tiên cho đường lên hoạt động ở 890 MHz đến 915 MHz.

Băng tần thứ hai dành cho đường xuống hoạt động tại 935 MHz đến 960 MHz. Mỗi kênh vật lý có băng thông là 200 KHz và có 8 khe thời gian, mỗi khe thời gian được gán cho một người sử dụng. Để tăng thêm dung lượng cho các hệ thống thông tin di động, tần số của các hệ thống được chuyển từ vùng 800 – 900 MHz vào vùng 1. Một số nước đã đưa vào sử dụng cả hai tần số (Dual Band).

17 Luan van Uplink Downlink Frequency ( MHz ) 890 915 935 960 Hình 1.1 Sự phân bố tần số trong hệ thống GSM Sơ đồ đa truy nhập TDMA Phân bố tần số đường lên: 890-915 MHz Đường xuống: 935-960 MHz Băng thông kênh 200 KHz Tốc độ điều chế dữ liệu trên kênh vô tuyến 270.8333 Kb/s Điều chế 0.3 GMSK Mã hoá kênh kết hợp mã hoá khối và mã xoắn Bảng 1.2 Các thông số chính của hệ thống GSM Kể từ khi ra đời, các hệ thống GSM đã phát triển với một tốc độ hết sức nhanh chóng và có mặt ở nhiều quốc gia. Ở Việt Nam hệ thống thông tin di động số GSM được đưa vào từ năm 1993 và được khai thác, áp dụng rộng rãi trên toàn quốc Có 4 chuẩn chính đối với hệ thống 2G: Hệ Thống Thông Tin Di Động Toàn Cầu (GSM); AMPS số (D-AMPS); Đa Truy Cập Phân Chia Theo Mã IS-95; và Mạng tế bào Số Cá Nhân (PDC). GSM đạt đuợc thành công nhất và đuợc sử dụng rộng rãi trong hệ thống 2G. ❖ GSM GSM cơ bản sử dụng băng tần 900MHz.

Sử dụng kỹ thuật đa truy nhập theo thời gian TDMA. nhung ở đây cũng có một số những phát sinh, 2 vấn đề 18 Luan van quan trọng là hệ thống mô hình số 1800 (DCS 1800; cũng đuợc biết nhu GSM 1800) và PCS 1900 (hay GSM 1900). Sau này chỉ đuợc sử dụng ở Bắc Mĩ và Chilê, và DCS 1800 thì đuợc tìm thấy ở một số khu vực khác trên thế giới. Nguyên do đầu tiên về băng tần số mới là do sự thiếu dung luợng đối với băng tầng 900 MHz.

Băng tần 1800MHz có thể đuợc sử dụng ý nghĩa và phổ biến hơn đối với nguời sử dụng. vì thế nó đã trở nên hoàn toàn phổ biến, đặc biệt trong những khu vực đông dân cư. Vì thế đồng thời cả 2 băng tần di động đều đuợc sử dụng, ở đây điện thoại sử dụng băng tần 1800MHz khi có thành phần khác sử dụng lên trên mạng 900MHz. Hệ thống GSM 900 làm việc trong một băng tần hẹp, dài tần cơ bản từ (890- 960MHz).

Trong đó băng tần cơ bản đuợc chia làm 2 phần : + Đuờng lên từ (890 - 915) MHz. + Đuờng xuống từ (935 - 960)MHz. Băng tần gồm 124 sóng mang đuợc chia làm 2 băng, mỗi băng rộng 25MHz,khoảng cách giữa 2 sóng mang kề nhau là 200KHz. Mỗi kênh sử dụng 2 tần số riêng biệt cho 2 đuờng lên và xuống gọi là kênh song công.

Khoảng cách giữa 2 tần số là không đổi bằng 45MHz. Mỗi kênh vô tuyến mang 8 khe thời gian TDMA và mỗi khe thời gian là một kênh vật lý trao đổi thông tin giữa MS và mạng GSM. Từ năm 1989 GSM được chuyển nhượng cho Viện tiêu chuẩn viễn thông Châu Âu (ETSI) và được viện phát triển qua nhiều giai đoạn. Đến năm 1997 mới hoàn thành tiêu chuẩn đầy đủ thành GSM 2G có kết hợp với dịch vụ số liệu chuyển mạch tốc độ cao (HSCSD) và dịch vụ truyền sóng vô tuyến gói đa dụng (GPRS).

Trong đó : ❖ HSCSD ( High Speed Circuit Switched Data) - Chuyển mạch kênh tốc độ cao: Nhược điểm các hệ thống thông tin di động sử dụng công nghệ GSM là tốc độ truyền dữ liệu chậm. Tốc độ về mặt lý thuyêt là 14.4Kbps, thực tế đo 19 Luan van được chỉ khoảng 9. Do vậy khi áp dụng công nghệ HSCSD sẽ làm tăng tốc độ truyền tải dữ liệu cả hệ thống. Cốt lõi công nghệ này là việc sử dụng ghép kênh theo thời gian, một trạm di động có thể sử dụng nhiều khe thời gian cho một kết nối dữ liệu tối đa là 4 khe thời gian.

Một khe thời gian có thể sử dụng tốc độ 9. Toàn bộ tốc độ chính là số khe thời gian nhân với tốc độ dữ liệu của một khe thời gian. HSCSD phân bố việc sử dụng khe thời gian một cách liên tục ngay cả khi không có dữ liệu truyền đi. ❖ GPRS (General Packet Radio Service) - Dịch vụ truyền dữ liệu theo gói: GPRS là một hệ thống vô tuyến thuộc giai đoạn trung gian, nhưng vẫn là hệ thống 3G nếu xét về mạng lõi.

GPRS cung cấp các kết nối số liệu chuyển mạch gói với tốc độ truyền lên tới 171,2Kbps (tốc độ số liệu đỉnh) và hỗ trợ giao thức Internet TCP/IP và X25, nhờ vậy tăng cường đáng kể các dịch vụ số liệu của GSM. Việc tích hợp GPRS vào mạng GSM được thực hiện rất đơn giản. Một phần các khe trên giao diện vô tuyến dành cho GPRS, cho phép ghép kênh số liệu gói được lập lịch trình trước đối với một số trạm di động. Phân hệ trạm gốc chỉ cần nâng cấp một phần nhỏ liên quan đến khối điều khiển gói (PCU- Packet Control Unit) để cung cấp khả năng định tuyến gói giữa các đầu cuối di động các nút cổng (gateway).

Một nâng cấp nhỏ về phần mềm cũng cần thiết để hỗ trợ các hệ thống mã hoá kênh khác nhau. Mạng lõi GSM được tạo thành từ các kết nối chuyển mạch kênh được mở rộng bằng cách thêm vào các nút chuyển mạch số liệu và gateway mới, được gọi là GGSN (Gateway GPRS Support Node) và SGSN (Serving GPRS Support Node).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Luận văn tốt nghiệp về hệ thống thông tin di động 4G LTE" của tác giả Nguyễn Chiến Thắng, dưới sự hướng dẫn của Th.S Đỗ Anh Dũng tại Trường Đại Học Dân Lập Hải Phòng, tập trung vào việc nghiên cứu và phân tích các khía cạnh kỹ thuật của hệ thống thông tin di động 4G LTE. Năm 2019, tác giả đã trình bày những lợi ích mà công nghệ 4G LTE mang lại, bao gồm tốc độ truyền tải dữ liệu cao, độ trễ thấp và khả năng kết nối đồng thời nhiều thiết bị. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về công nghệ này mà còn giúp người đọc hiểu rõ hơn về sự phát triển của hệ thống thông tin di động hiện đại.

Để mở rộng kiến thức về lĩnh vực viễn thông, bạn có thể tham khảo thêm các tài liệu liên quan như Nâng cao chất lượng dịch vụ thời gian thực trong mạng LTE bằng thuật toán MLWDF, nơi bạn sẽ tìm thấy những phương pháp cải thiện chất lượng dịch vụ trong mạng LTE. Ngoài ra, bài viết Luận văn về triệt nhiễu và tách sóng trong công nghệ CDMA cũng sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn về các công nghệ viễn thông khác, giúp bạn so sánh và đối chiếu với 4G LTE. Cuối cùng, Luận Văn Tìm Hiểu Về Hệ Thống Đa Truy Cập MCCDMA sẽ là một nguồn tài liệu hữu ích để bạn khám phá thêm về các hệ thống đa truy cập trong viễn thông. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các công nghệ viễn thông hiện đại.