Luận án tiến sĩ về hệ thống lái steer by wire điện tử thủy lực

Luận án tiến sĩ nghiên cứu hệ thống lái steer by wire điện tử thủy lực, phân tích công nghệ và ứng dụng trong ngành ô tô hiện đại.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2021

170
5
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU

1.1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.2. Hệ thống lái với vấn đề quay vòng và ổn định hướng chuyển động ô tô

1.3. Hệ thống lái Steer by wire (SBW)

1.3.1. Đặc điểm kỹ thuật của hệ thống lái SBW

1.3.2. Chuyển đổi từ hệ thống lái thông thường sang hệ thống lái SBW

1.4. Các nghiên cứu trong và ngoài nước

1.4.1. Các nghiên cứu trong nước

1.4.2. Các nghiên cứu ngoài nước

1.5. Mục tiêu, nội dung và phương pháp nghiên cứu của luận án

1.5.1. Mục tiêu nghiên cứu

1.5.2. Nội dung nghiên cứu

1.5.3. Phương pháp nghiên cứu

1.6. Kết luận chương

2. CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG MÔ HÌNH ĐỘNG LỰC HỌC VÀ MÔ HÌNH MÔ PHỎNG HỆ THỐNG LÁI SBW ĐIỆN TỬ - THỦY LỰC

2.1. Xây dựng mô hình động lực học hệ thống lái SBW điện tử - thủy lực

2.1.1. Các giả thiết xây dựng mô hình

2.1.2. Hệ thống trợ lực thủy lực

2.1.3. Động cơ điện một chiều

2.1.4. Cụm bánh xe dẫn hướng

2.1.5. Bộ chấp hành dẫn hướng

2.1.6. Mô hình động lực học đổi hướng chuyển động ô tô

2.1.7. Bộ phận điện tử

2.2. Xây dựng sơ đồ khối mô phỏng động lực học hệ thống lái SBW điện tử - thủy lực

2.2.1. Sơ đồ khối mô phỏng động lực học vành tay lái

2.2.2. Sơ đồ khối động lực học bộ chấp hành dẫn hướng

2.3. Kết luận chương

3. CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ BỘ ĐIỀU KHIỂN CHO HỆ THỐNG LÁI SBW ĐIỆN TỬ - THỦY LỰC

3.1. Tổng quan về điều khiển

3.1.1. Bộ điều khiển PID

3.1.2. Điều khiển LQR

3.1.3. Bộ điều khiển trượt (SMC)

3.2. Thiết kế bộ điều khiển cho hệ thống lái SBW điện tử - thủy lực bằng phương pháp điều khiển SMC

3.2.1. Thiết kế bộ điều khiển chấp hành dẫn hướng

3.2.2. Thiết kế bộ điều khiển tạo cảm giác lái

3.3. Mô phỏng hệ thống lái SBW điện tử - thủy lực

3.3.1. Sơ đồ khối mô phỏng hệ thống lái SBW điện tử - thủy lực

3.3.2. Mô phỏng vành lái

3.3.3. Mô phỏng bộ chấp hành dẫn hướng

3.3.4. Mô phỏng đổi hướng chuyển động ô tô

3.4. Kết luận chương

4. CHƯƠNG 4: NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM

4.1. Mục đích và phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

4.1.1. Mục đích thực nghiệm

4.1.2. Phương pháp thực nghiệm

4.2. Nghiên cứu thực nghiệm trên ô tô với hệ thống lái trợ lực thủy lực

4.2.1. Các bước chuẩn bị thực nghiệm

4.2.2. Phương pháp thực hiện

4.2.3. Kết quả thực nghiệm

4.3. Chuyển đổi hệ thống lái SBW điện tử - thủy lực

4.3.1. Khảo sát, đo đạc các thông số trên xe ô tô tải HINO 300Series

4.3.2. Chuyển đổi cụm vành lái tái tạo cảm giác

4.3.3. Chuyển đổi cụm chấp hành dẫn hướng

4.3.4. Tính toán, kiểm nghiệm các thông số làm việc của hệ thống lái SBW điện tử - thủy lực trên xe ô tô HINO 300Series

4.3.5. Thiết kế bộ điều khiển cho hệ thống lái

4.3.6. Lắp đặt lên xe và vận hành thử

4.3.7. Hiển thị kết quả và lưu trữ dữ liệu

4.4. Nghiên cứu thực nghiệm trên ô tô với hệ thống lái SBW điện tử - thủy lực

4.4.1. Các bước chuẩn bị thực nghiệm

4.4.2. Phương pháp thực hiện

4.4.3. Kết quả thực nghiệm

4.5. Kiểm chứng mô hình lý thuyết với thực nghiệm và đánh giá kết quả

4.6. Kết luận chương

KẾT LUẬN CHUNG

NHỮNG KIẾN NGHỊ VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC II

PHỤ LỤC III

Tóm tắt

I. Tổng quan về hệ thống lái

Hệ thống lái là một phần quan trọng trong cấu trúc của ô tô, có chức năng điều khiển hướng di chuyển và đảm bảo sự ổn định khi xe vận hành. Hệ thống lái truyền thống sử dụng cơ cấu cơ khí để truyền động từ vành lái đến bánh xe. Tuy nhiên, với sự phát triển của công nghệ, steer by wire (SBW) đã ra đời, cho phép loại bỏ các bộ phận cơ khí, thay thế bằng các cảm biến và động cơ điện. Điều này không chỉ giúp giảm trọng lượng mà còn nâng cao độ chính xác và khả năng điều khiển của xe. Theo nghiên cứu, việc chuyển đổi từ hệ thống lái thông thường sang hệ thống lái điện tử thủy lực mang lại nhiều lợi ích, bao gồm cải thiện hiệu suất và tăng cường tính an toàn cho người lái.

1.1 Đặc điểm kỹ thuật của hệ thống lái SBW

Hệ thống lái SBW có nhiều đặc điểm nổi bật, bao gồm khả năng tự động hóa và điều khiển từ xa. Công nghệ lái xe này sử dụng các cảm biến để thu thập thông tin về góc quay và tốc độ của xe, từ đó điều chỉnh lực lái một cách chính xác. Hệ thống này cũng cho phép tích hợp các tính năng như tự động hóacảm biến lái, giúp người lái có trải nghiệm tốt hơn. Nghiên cứu cho thấy rằng việc áp dụng cảm biến lái trong hệ thống SBW không chỉ nâng cao tính năng an toàn mà còn cải thiện khả năng phản hồi của xe trong các tình huống khẩn cấp.

1.2 Chuyển đổi từ hệ thống lái thông thường sang hệ thống lái SBW

Quá trình chuyển đổi từ hệ thống lái truyền thống sang hệ thống lái SBW đòi hỏi sự nghiên cứu kỹ lưỡng về động lực học và điều khiển. Việc này bao gồm việc thiết kế lại các bộ phận như bộ chấp hành dẫn hướngbộ điều khiển điện tử. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc chuyển đổi này không chỉ giúp giảm thiểu sự phức tạp trong cấu trúc mà còn nâng cao hiệu suất hoạt động của xe. Hệ thống SBW cho phép điều chỉnh lực lái một cách linh hoạt, phù hợp với từng điều kiện vận hành, từ đó cải thiện trải nghiệm lái xe.

II. Nghiên cứu thực nghiệm

Nghiên cứu thực nghiệm là một phần quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả của hệ thống lái SBW. Các thí nghiệm được thực hiện trên xe tải HINO 300Series, nhằm kiểm tra tính khả thi và hiệu suất của hệ thống lái điện tử - thủy lực. Các phương pháp thực nghiệm bao gồm việc đo đạc các thông số kỹ thuật và đánh giá hiệu suất lái trong các điều kiện khác nhau. Kết quả cho thấy rằng hệ thống SBW không chỉ đáp ứng được yêu cầu về an toàn mà còn cải thiện đáng kể khả năng điều khiển của xe. Việc sử dụng cảm biến láibộ điều khiển điện tử đã giúp tối ưu hóa quá trình điều khiển, mang lại trải nghiệm lái xe tốt hơn.

2.1 Mục đích và phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

Mục đích của nghiên cứu thực nghiệm là để xác định hiệu suất và tính khả thi của hệ thống lái SBW trên xe tải HINO 300Series. Phương pháp nghiên cứu bao gồm việc thực hiện các bài kiểm tra trên đường thực tế, đo đạc các thông số như góc quay, lực tác động và phản hồi của hệ thống. Kết quả thu được sẽ được so sánh với các thông số lý thuyết để đánh giá độ chính xác và hiệu quả của hệ thống. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp thông tin quý giá cho việc phát triển công nghệ lái xe mà còn mở ra hướng đi mới cho các nghiên cứu tiếp theo trong lĩnh vực này.

2.2 Kết quả thực nghiệm

Kết quả thực nghiệm cho thấy rằng hệ thống lái SBW hoạt động ổn định và hiệu quả trong các điều kiện khác nhau. Các thông số đo được cho thấy sự cải thiện rõ rệt về khả năng phản hồi và độ chính xác của hệ thống lái. Việc sử dụng động cơ điệnbộ điều khiển điện tử đã giúp tối ưu hóa quá trình điều khiển, mang lại trải nghiệm lái xe tốt hơn. Các dữ liệu thu thập được từ thực nghiệm sẽ là cơ sở để tiếp tục nghiên cứu và phát triển công nghệ lái xe trong tương lai.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Hệ thống lái với vấn đề quay vòng và ổn định hướng chuyển động ô tô Các kết quả thống kê và nghiên cứu thực nghiệm [10],[11],[12] cho thấy: Tỷ lệ tai nạn giảm đáng kể đối với các phương tiện được trang bị hệ thống cân bằng điện tử (ESC). Khi có vấn đề mất ổn định, hệ thống này sẽ can thiệp vào hệ thống chống bó cứng bánh xe khi phanh (ABS) nhằm điều chỉnh góc xoay và tốc độ của từng bánh xe sao cho cân bằng với góc trượt quán tính của xe, nhờ vậy mà xe không bị chệch hướng đột ngột hay lật xe. Tuy nhiên sự tham gia của chúng đôi khi làm ảnh hưởng đến sự linh hoạt cũng như giới hạn sự hoạt động của xe, nhưng với hệ thống lái lại cho khả năng tốt hơn để thỏa mãn các vấn đề nêu trên: Trong một số trường hợp, việc sử dụng hệ thống lái thay vì phanh sẽ an toàn hơn bởi vì việc đánh lái phát sinh ít ma sát hơn giữa lốp xe và mặt đường.

Trường hợp lốp xe phía sau đã đạt đến giới hạn độ bám của chúng khi xe đang chạy, lúc này kiểm soát duy nhất là bánh xe phía trước, nếu phanh trong tình huống này thường dẫn đến xe bị mất hướng và quay tròn không thể kiểm soát được [13].3: Lực tác động lên bánh xe DH:(a) Lực tạo ra do phanh Fx, (b) Lực tạo ra khi lái Fy 𝑡 Trên Hình 1.3 mô men tạo ra do phanh: 𝑀𝑃 = 𝐹𝑥 , mô men tạo ra do lái: 𝑀𝐿 = 2 2𝐹𝑦 𝑎. Lực bên Fy ở mỗi lốp xe chỉ bằng một phần tư lực theo chiều dọc Fx, tạo ra luan an 7 𝐹 𝑎 trong cùng một khoảng thời gian: 𝐹𝑦 = 𝑥 vì vậy 𝑀𝐿 = 𝐹𝑥. Kết quả này cho thấy hệ 4 2 thống lái đặc biệt hữu ích để kiểm soát một chiếc xe khi lực 𝐹𝑥 đã đến giới hạn bám. Đối với thiết kế trên ô tô hiện đại, tính an toàn và tiện nghi được đặt lên hàng đầu, chính vì vậy quỹ đạo chuyển động của ô tô được khảo sát một cách chặt chẽ trong nhiều tình huống khẩn cấp và tình trạng đường thay đổi [14].4: Các bậc tự do của ô tô trong không gian Quỹ đạo chuyển động của ô tô là tổng hợp kết quả tương tác giữa hệ thống lái, động cơ, hệ thống truyền lực, hệ thống treo, phanh, lốp xe và tình trạng mặt đường.

Ồn định quỹ đạo chuyển động thường được khảo sát qua động lực học theo phương dọc, động lực học theo phương ngang và động lực học theo phương thẳng đứng (Hình 1. Tổng hợp tác động của ba quỹ đạo này được phản ánh qua tương tác lốp với mặt đường. Do vậy, trên tất cả các khảo sát về quỹ đạo mô hình toán học của lốp được đưa vào một cách phù hợp. Các nhà thiết kế và người sử dụng quan tâm đến độ ổn định của thân xe nhằm đảm bảo tính an toàn và êm dịu của thân xe.

Hay nói cách khác, để ổn định quy đạo chuyển động của thân xe cần khảo sát tình trạng mặt đường thông qua tác động của lốp lên thân xe. Một cách chung nhất, quỹ đạo chuyển động của xe được thể hiện qua ba tính chất: Tính năng động lực (performance), tính điều khiển (handling), và dao động theo phương thẳng đứng (ride) [15]. Tính năng động lực là khả năng ô tô có vận tốc trung bình lớn nhất trong điều kiện đường cụ thể, được đánh giá thông qua gia tốc của xe, góc dốc lớn nhất có thể vượt, thời gian, quãng đường tăng tốc và vận tốc lớn nhất. Chất lượng của việc điều khiển được thể hiện chính trong việc ổn định trạng thái cân bằng xe trước những tác động bên ngoài ngẫu nhiên.

Tính điều khiển chuyển động là tình trạng thay đổi về không gian trạng thái của hành khách hay người sử dụng theo luan an 8 những ảnh hưởng ngẫu nhiên từ mặt đường. Khi khảo sát đảm bảo hướng chuyển động của ô tô thì phải xem xét đến cả ba tình trạng trên và mối quan hệ giữa chúng. Có thể thấy sự tương tác giữa xe và môi trường chuyển động qua Hình 1.5: Sơ đồ tương tác giữa ô tô, người lái và môi trường Khi khảo sát đảm bảo hướng chuyển động ô tô hay bất kì trạng thái khác một cách đầy đủ thì ta đều phải quan tâm đến động lực học của xe [16]. Động lực học xe được phân thành ba nhánh chính Hình 1.6: Động lực học theo phương dọc (Longgitudinal), động lực học theo phương ngang (Lateral), động lực học theo phương thẳng (Vertical).6: Động lực học điều khiển ô tô luan an 9 Động lực học theo phương ngang chủ yếu tập trung khảo sát quá trình quay vòng của xe.

Khi ô tô chuyển động quay vòng, trạng thái động lực học theo phương ngang cần được khảo sát một cách kỹ lưỡng nhằm đảm bảo an toàn cũng như cảm giác thoải mái cho người sử dụng. Động lực học theo phương thẳng đứng khảo sát chuyển động lắc ngang của khung xe, trạng thái quay vòng, biến dạng bánh xe theo phương ngang, tình trạng mất ổn định hướng khi phanh. Hay nói cách khác, khi khảo sát hệ thống lái thì ngoài việc khảo sát động lực học bản thân hệ thống lái thì ta cần xem xét mối quan hệ trực tiếp đến động lực học theo phương ngang Hình 1.7: Mô hình nghiên cứu chuyển dịch theo phương ngang a) Mô hình lắc ngang thân xe; b) Mô hình phân tích lực bánh xe Tính ổn định quỹ đạo chuyển động của ô tô là khả năng ô tô giữ được trạng thái chuyển động theo yêu cầu trong nhiều điều kiện chuyển động khác nhau. Tùy thuộc vào các trạng thái chuyển động khác nhau, ô tô có thể mất ổn định hướng chuyển động khi có tác dụng của lực ngang (do tác dụng của gió hoặc mặt đường nghiêng), khi quay vòng hoặc phanh gấp trên đường có hệ số bám khác nhau ở hai bên bánh xe.

Trong những điều kiện sử dụng phức tạp như vậy, ô tô phải giữ được quỹ đạo chuyển động mong muốn theo tín hiệu điều khiển của người lái. Khi ô tô quay vòng, do ảnh hưởng lực quán tính ly tâm gây nên sự biến dạng bên của lốp. Do sự biến dạng của lốp, bán kính quay vòng thực tế của ô tô có thể khác với bán kính quay vòng mong muốn của lái xe. Điều này dẫn đến mất ổn định quỹ đạo chuyển động gây nguy hiểm cho người và phương tiện.

Trong trường hợp lốp xe không luan an 10 biến dạng (ô tô quay vòng với tốc độ thấp xem như không chịu ảnh hưởng của lực quán tính ly tâm), bán kính quay vòng thực tế của ô tô trùng với bán kính quay vòng lý thuyết R và được xác định gần đúng theo góc quay của bánh xe dẫn hướng δ và chiều dài cơ sở L của ô tô theo công thức (1.1) tan   Trong trường hợp này, trạng thái quay vòng của ô tô được gọi là quay vòng đúng (neutral steering). Tuy nhiên trong thực tế, do tính đàn hồi của lốp, các phản lực ngang từ mặt đường tác dụng lên bánh xe khi ô tô quay vòng nên có các góc lệch bên trước (αf ) và sau (αr) như Hình 1.8: Mô hình quay vòng ô tô a) Quay vòng khi lốp xe không biến dạng; b) Quay vòng khi lốp xe biến dạng bên Các góc lệch bên được xác định như sau: Fyf Fyr f  ; r  (1.2) C f C r Các lực Fyf , Fyr sẽ khiến các bánh xe cầu trước và bánh xe cầu sau lăn lệch khỏi phương chuyển động ban đầu dưới các góc lệch bên αf và αr. Trong đó Cαf và Cαr: Độ cứng bên tổng cộng của các bánh xe cầu trước và cầu sau. Với các góc quay nhỏ δ, αf, αr<<1, bán kính quay vòng thực tế của ô tô được xác định gần đúng như sau: luan an 11 L L Rt   tan    f   tan  r    f   r  (1.3) Từ công thức (1.3), tùy thuộc vào giá trị của  f   r  có thể xác định ba trạng thái quay vòng của ô tô khi lốp biến dạng như sau: - Nếu α𝑓 = α𝑟 → 𝑅𝑡 = 𝑅: Quay vòng đúng (Neutral steering); - Nếu α𝑓 < α𝑟 → 𝑅𝑡 < 𝑅: Quay vòng thừa (Over steering); - Nếu α𝑓 > α𝑟 → 𝑅𝑡 > 𝑅: Quay vòng thiếu (Under steering).

Hiện tượng quay vòng thừa: Xảy ra khi bán kính quay vòng thực tế của xe nhỏ hơn bán kính quay vòng mong muốn theo góc quay vành lái, nghĩa là Rt<R. Trong trường hợp này người lái phải kịp thời trả tay lái để đưa ô tô trở về quỹ đạo chuyển động mong muốn. Nếu thao tác chậm sẽ làm tăng đột biến giá trị lực quán tính ly tâm tạo nên ảnh hưởng đến quá trình quay vòng. Do sự thay đổi tải trọng giữa các bánh xe trong và ngoài tâm quay vòng, phản lực thẳng đứng tác dụng lên các bánh xe trong giảm, làm giảm khả năng bám ngang của ô tô khiến ô tô bị trượt ra khỏi quỹ đạo chuyển động ban đầu.

Nếu mặt đường có hệ số bám lớn ô tô có thể bị lật quanh vết tiếp xúc giữa các bánh xe ngoài với mặt đường. Hiện tượng quay vòng thiếu: Xảy ra khi bán kính quay vòng thực tế của xe lớn hơn bán kính quay vòng mong muốn so với góc quay vành tay lái, nghĩa là Rt>R. Khi quay vòng thiếu, các phản lực bên tác dụng lên bánh xe sau có xu hướng làm cho phần đuôi xe lệch về phía trong. Để ô tô chuyển động đúng quỹ đạo mong muốn, người lái phải đánh thêm tay lái một góc quay phù hợp.2 Hệ thống lái Steer by wire (SBW) Việc thay thế các điều khiển điện tử cho các điều khiển cơ học được gọi là công nghệ “X - by wire”.

Công nghệ này không còn mới mẻ trong lĩnh vực kỹ thuật hàng không [19]. Nhiều máy bay cả thương mại và quân sự, đều dựa hoàn toàn vào hệ thống kiểm soát bay bằng công nghệ “Fly by wire”: Ngày 25 tháng 5 năm 1972 tại Trung tâm nghiên cứu bay NASA Dryden Edwards CA, đã thực hiện chuyến bay thử nghiệm đầu tiên của một chiếc máy bay kỹ thuật số sử dụng công nghệ “fly-by-wire”, đó là một chiếc máy bay hải quân cải tiến F-8C Crusader với phi công thử nghiệm luan an 12 Gary Krier [13], đã khởi đầu cho công nghệ X-by-wire được phát triển mạnh mẽ sau này.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Xuân Tuấn về hệ thống lái steer by wire điện tử thủy lực, được thực hiện tại Trường Đại Học Giao Thông Vận Tải, mang đến cái nhìn sâu sắc về công nghệ lái xe hiện đại. Nghiên cứu này không chỉ tập trung vào nguyên lý hoạt động của hệ thống lái điện tử mà còn phân tích các lợi ích của việc áp dụng công nghệ này trong ngành công nghiệp ô tô, như tăng cường độ chính xác và giảm thiểu trọng lượng hệ thống. Đặc biệt, luận án còn đề cập đến các thách thức và giải pháp trong việc triển khai hệ thống này, từ đó giúp độc giả hiểu rõ hơn về xu hướng phát triển công nghệ lái xe trong tương lai.

Để mở rộng kiến thức về các lĩnh vực liên quan, bạn có thể tham khảo thêm các tài liệu như Luận án tiến sĩ về hiện tượng vận chuyển điện tử trong cấu trúc nano bán dẫn với algangan và pentagraphene, nơi nghiên cứu về các hiện tượng điện tử trong vật liệu nano, có thể liên quan đến các ứng dụng trong công nghệ lái xe. Bên cạnh đó, Luận án tiến sĩ về thiết kế và khảo sát kênh dẫn sóng plasmonic dạng nêm cũng cung cấp cái nhìn về các công nghệ tiên tiến trong lĩnh vực vật liệu, có thể ứng dụng trong các hệ thống lái hiện đại. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ về điều khiển bước đi cho robot humanoid sẽ giúp bạn hiểu thêm về các công nghệ điều khiển tự động, một phần quan trọng trong việc phát triển hệ thống lái tự động.