CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG CẤP NƯỚC Nước và không khí là những thành phần không thể thiếu được trong cuộc sống của các sinh vật. Đối với mọi hoạt động của con người như ăn uống, sản xuất cũng như kinh doanh. thì nước sạch cũng là thành phần không thể thiếu. Hiện nay việc sản xuất và cung cấp nước sạch cũng là những vấn đề hết sức nóng bỏng đang đặt ra đối với nhân loại đặc biệt là ở các thành phố lớn trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng.1 Thuận lợi và khó khăn cho ngành sản xuất nước tại nước ta Việt Nam nằm ở khu vực nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm có lượng mưa trung bình vào diện cao, có nhiều sông ngòi vì thế có khá nhiều thuận lợi về nguồn nước tự nhiên, tuy nhiên sản xuất nước sạch và chất lượng nước sạch luôn là vấn đề được quan tâm.
So sánh với nhiều quốc gia trên thế giới, Việt Nam có nguồn tài nguyên nước lục địa khá phong phú và đa dạng. Thuận lợi là tài nguyên nước tương đối phong phú. Về nước mặt, trung bình hàng năm lãnh thổ Việt Nam nhận được từ không trung 1944mm nước mưa. trong đó khoảng 1000mm bốc hơi trở lại không trung, số còn lại hình thành trên lãnh thổ nước ta một lượng nước mặt khoảng 310 tỷ m3.
Tính bình quân mỗi người dân Việt Nam có 3870m3 nước mỗi năm hoặc 10,6m3, tức 10600 lít nước mỗi ngày. Trong lúc tại các nước công nghiệp hiện nay, tổng nhu cầu về nước trong một ngày bình quân theo đầu người, cũng chỉ vào 7400 lít/người/ngày; bao gồm 340 lít cho sinh hoạt, 2540 lít cho nông nghiệp và 4520 lít cho công nghiệp. Ở nước ta ở các đô thị lớn lượng nước sinh hoạt cấp cho mỗi người/ ngày hiện mới khoảng từ 100-150 lít. Đối với Nông thôn, 1 c mục tiêu là cấp nước cho mỗi người dân mỗi ngày 70 lít vào năm 2010, và 140 lít vào năm 2020.
Nguồn nước ngọt từ mưa đã vượt khá xa yêu cầu về cấp nước. Ngoài nguồn nước mặt từ mưa, Việt Nam hiện còn có nguồn nước rất lớn, do các con sông đem từ lãnh thổ nước ngoài vào. Lượng nước này ước tính khoảng 520 tỷ m3, gấp 1,7 lượng nước ngọt hình thành trong nước. Tổng hợp các nguồn nước hình thành trên lãnh thổ quốc gia và từ nước ngoài chảy vào, Việt Nam có tổng lượng nước trung bình năm bằng khoảng 830 tỷ m3, trong đó hình thành trong nước là 310 tỷ m3, chiếm 37%; phần từ nước ngoài là 520 tỷ, chiếm 63%.
Nước tồn tại trong sông, kênh, rạch, đầm phá. Tại đây nước được lưu giữ, vận chuyển, chuyển hóa, cung cấp cho nhu cầu của người cùng sinh vật và góp phần tạo nên tài nguyên đa dạng về sinh học và cảnh sắc thiên nhiên vô cùng phong phú. Về nước dưới đất, nước ta cũng có tiềm năng tương đối lớn. Tổng trữ lượng có tiềm năng khai thác được trên cả nước của các tầng trữ nước trên toàn lãnh thổ Việt Nam, chưa kể phần ở Hải đảo, ước tính gần 2000m3/s, tương ứng khoảng 60 tỷ m3/năm Trái đất có tỷ trọng nước là rất cao ( thành phần của nước chiếm đến 70% thành phần cấu tạo nên trái đất), tuy nhiên lượng nước mà con người thực sự có thể sử dụng và đưa vào sinh hoạt trong đời sống hằng ngày lại rất thấp, có thể xem minh họa dưới đây để có thể nắm rõ hơn về tình hình trên: Tuy vậy nước ta cũng có những khó khăn đáng kể trong việc sản xuất nước ngọt phục vụ đời sống như sau: Khó khăn thứ nhất là 2/3 tổng lượng nước mặt phụ thuộc vào nước ngoài: 63% tổng lượng dòng chảy nước mặt trên lãnh thổ Việt Nam là từ các nước láng giềng: Trung Quốc, Thái Lan, Myanma, Lào và Campuchia chảy vào.
Các nước này đều đang ở trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nông nghiệp, dịch vụ một cách nhanh chóng, dẫn tới yêu cầu tận dụng tài nguyên nước sản sinh trên lãnh thổ của mình. Chế độ thủy văn của các dòng sông xuyên biên giới chảy vào nước ta sẽ thay đổi. Khó khăn thứ hai là tài nguyên nước phân bố rất không đều theo không gian và thời gian: Lượng mưa trên lãnh thổ nước ta phân bố rất không đều theo không gian. Bình quân toàn lanh thổ lượng mưa năm là 1944mm.
Tuy nhiên, trong từng phạm vi lanh thổ nhỏ hơn như tỉnh, huyện, lượng mưa phân bố cũng rất không đều. Trong bối cảnh chung của cả nước như vậy, sự phân bố nước không đều theo không gian và thời gian làm cho tình trạng nước thiếu về mùa khô và lũ lụt tàn phá mạnh mẽ vào mùa mưa trở lên đặc biệt trầm trọng tại một số nơi. 2 c Khó khăn thứ ba là có nhiều thiên tai nghiêm trọng gắn liền với nước: Hạn hán cũng là thiên tai gây tác hại hết sức lớn, trên diện rộng cho sản xuất nông, công nghiệp và sinh hoạt của nhân dân. Vào mùa khô tất cả các vùng trên nước ta từ đồng bằng, trung du đến miền núi đều có thể bị hạn nặng.
Trong nhưng năm gần đây, tại các đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh về mùa khô cũng thiếu gay gắt nước sinh hoạt cho nhân dân, cũng như nước sản xuất cho công nghiệp Khó khăn thư tư là chất lượng nước đang giảm sút tại nhiều nơi: So sánh với một số nơi trên thế giới thì nước sông ngòi phần thượng lưu và một số hồ lớn tại Việt Nam còn tương đối sạch. Tuy nhiên với sự phát triển nhanh của công nghiệp hóa, đô thị hóa, gia tăng dân số nông thôn và thành thị chất lượng nước mặt cũng như nước ngầm đã có những biểu hiện suy thoái khá nghiêm trọng Khó khăn thứ năm là yêu cầu về nước đang tăng nhanh: ở nước ta với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa, phát triển nông nghiệp và nâng cao đời sống nhân dân, thì yêu cầu về nước đang tăng ngày càng nhanh. tỷ lệ dân số được dùng nước sạch hiện nay là 50% dự kiến sẽ đạt 70% vào năm 2020 và 90% vào năm 2022, nhu cầu nước sinh hoạt đương nhiên phải tăng theo. Với đà gia tăng được dự báo trên đây, đến năm 2030 lượng nước sử dụng sẽ có thể lên tới gần 90 tỷ m3/năm, tức bằng 11% tổng tài nguyên nước, hoặc 29% tài nguyên nước hình thành trên lãnh thổ quốc gia.2 Khái quát chung về Công ty cổ phần nước sạch Thái Nguyên 1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty cổ phần nước sạch Thái Nguyên Công ty Cổ phần Nước sạch Thái Nguyên tiền thân là nhà máy nước Thái Nguyên thành lập năm 1962 và đi vào hoạt động theo mô hình công ty cổ phần từ ngày 1/1/2010, là đơn vị phụ trách việc đảm bảo cung cấp nước sạch cho sinh hoạt và sản xuất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên [2] Địa chỉ trụ sở chính: Tổ 1, Phường Trưng Vương, TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
SĐT: 0208 3855252/ 0208 3851573 Fax : 0208 3852976 Email: thawaco@Gmail.com Qua hơn lăm mươi năm, mặc dù đã rất nhiều lần được đổi tên: Từ Nhà máy nước Túc Duyên; Nhà máy nước Bắc Thái, Công ty Cấp nước Bắc Thái, Công ty Cấp nước Thái Nguyên và đến nay là Công ty Cổ phần Nước sạch Thái Nguyên. Mỗi lần đổi tên là mỗi lần lại mở ra trang sử mới cho công ty với rất 3 c nhiều thành tích nổi bật. Tháng 12/1999 dự án cấp nước và vệ sinh Thành phố Thái Nguyên được triển khai khẩn trương, khi đó ba giếng khai thác nước mới là KT1, KT2, H37 tại phường Túc Duyên đi vào hoạt động, nâng công xuất Nhà máy nước Túc Duyên từ 7. Sau một thời gian nỗ lực và khẩn trương xây dựng, đúng vào dịp Thành phố Thái Nguyên kỷ niệm 40 năm ngày thành lập, Nhà máy nước Tích Lương chính thức sản xuất, bơm nước hòa vào hệ thống cấp nước của thành phố, góp phần đưa tổng công suất của công ty lên 45.000m3 /ngày, đảm bảo cung cấp đủ nước sạch cho Thành phố Thái Nguyên và các vùng lân cận.
Thực hiện chủ trương sắp xếp đổi mới và phát triển doanh nghiệp Nhà nước, ngày 01/6/2006, công ty chính thức hoạt động theo phương án chuyển đổi doanh nghiệp, kiện toàn lại tổ chức bộ máy. Trong quá trình đầu tư và phát triển, công ty luôn chú trọng công tác đầu tư chiều sâu, mạnh dạn đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào các lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh, sử dụng các nguồn vốn đầu tư có hiệu quả, tập trung ưu tiên nguồn lực cho công tác chống thất thoát, thất thu, nâng cao chất lượng dịch vụ, tập trung mở rộng phạm vi cấp nước, phát triển khách hàng trên địa bàn thành phố và các vùng lần cận, đồng thời phát triển cấp nước tới các thị trấn thuộc các huyện trong tỉnh. Tháng 4/2009, Dự án cấp nước Thị trấn Trại Cau công suất 1000m3/ngày hoàn thành chính thức đưa vào sử dụng, mở rộng địa bàn dịch vụ cấp nước sạch. Năm 2009, công ty tiếp tục đầu tư nâng công suất nhà máy nước Tích Lương từ 20.000 m3/ngày bằng việc ứng dụng công nghệ tấm lắng lamen trong xử lý nước sạch.
Từ ngày 01/01/2010, công ty tiếp tục được UBND tỉnh giao nhiệm vụ tiếp nhận quản lý Nhà máy nước Đại Từ có công suất 2.500 m3/ngày từ Trung tâm Nước sạch nông thôn thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, với khách hàng ban đầu là 120 hộ, tỷ lệ thất thoát trên 40%. Để phát huy công suất nhà máy, công ty đã đầu tư hệ thống mạng đường ống cấp 3 để đảm bảo cấp nước phát triển mở rộng khách hàng trên địa bàn. Hiện nay, Xí nghiệp nước sạch Đại Từ là dịch vụ cấp nước cho trên 1200 hộ khách hàng trên địa bàn, đảm bảo kiểm soát tốt lưu lượng, áp lực, tỷ lệ thất thoát kiểm soát ở mức 15%. Điều này đã được rất nhiều khách hàng ghi nhận và đánh giá cao.
Năm 2011, công ty tiếp tục đầu tư khoan bổ sung 2 giếng trên khu vực phường Quang Vinh nhằm bổ sung sản lượng cho Nhà máy nước Túc Duyên, đảm bảo bổ sung lưu lượng cho khu vực thành phố và vùng lân cận. Ngày 14/5/2012, Trạm sản xuất nước Quang Vinh thuộc Xí nghiệp nước sạch Túc Duyên chính thức bơm nước hoà mạng vào hệ thống cấp nước Thành phố Thái Nguyên, đáp ứng kịp thời nhu cầu sử dụng nước sạch tăng nhanh của nhân dân.