CHƯƠNG 1 TONG QUAN VE PHƯƠNG PHAP GIẢM LỰC CAN 1. Giới thiệu chung về phương pháp giảm lực cản "Ngày nay, nhủ cầu tiêu thụ năng lượng trên toàn thé giới dang gia ting mạnh mẽ, trong bối cảnh đang phải phần đầu vượt qua những thách thức to lớn vỀ nguy cơ "hủy hoại mỗi trường, nguồn tải nguyên năng lượng hóa thạch (than, dẫu khí, thủy, dign.) ngày cảng khan hiểm, các nguồn năng lượng mớichưa phát tid thi chủ đề năng lượng có nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự ph kinh tế của mỗi quốc gia, một trong những giải pháp để giải quyết vin đề trên là phương pháp lâm giảm lực cản. Các phương pháp giảm lực cản có. giá tri lớn trong việc giảm mức u thụ nhiên liệu, vi nhiên liệu đóng vai trò quan trọng việc vận chuyển hàng hóa, chất lưu trong, nhiễu lĩnh vực khác nhau của đồi sống con người.
Bên cạnh đó giảm lực cản (DR) được ứng dung nhiều tong các trường hợp khác nhau thu được hiệu qua cao, có thé kế đến một số phương pháp làm giảm lực cán như các phương pháp chủ động gdm sử dụng chất phụ gia polymer, surfactant, sử dung sợi Fibers phương pháp tạo bot khí. và các phương pháp thụ động gdm Thiết kế khí động học, Lim bóng, nhẫn bŠ mặt, 1.2 - Các phương pháp giảm lực cản 12. Sie đụng Fiber (sợi) Ci dung dịch với tỷ lệ kích thước của các sợi (Ud) từ 25-35 cho thấy sự giảm lực cán với ni 1g độ sợi cao. Với tỷ lệ kích thước tăng lên và giảm bớt đường kinh sợi, hiệu quả của các sợi hóa học tăng lên.
Các hệ thống của các sợi hóa học hòa trộn với polymer đã đạt được hiệu quả giảm lực cản lên tới 95%. Mức độ giảm lực cản này cao hơn mức độ giảm lực cản đối với các polymer hoặ với các sợi đơn. Các polymer trong loại hệ thống này cũng bền hơn với sự phân rã Tuy nhiên, việc sử dụng các sợi hóa học bị han chế bởi các trở ngại mà chúng có thể sty ta các vin dễ kin trong các đường Ống nước do nồng độ cao (khoảng một vài phiin trim) yêu cầu cho sự giảm lực cản. Ngoài ra, chúng chỉ được ứng dụng vào việc giảm lực cản trong các hệ thống nhà máy công nghiệp và gần như không được sử dụng nhiều vào các hệ thông sinh hoạt, nguồn nước dân cư do các vấn đề về sức khỏe và các chỉ phí liên quan lọc bỏ các tạp chất trong nguồn nước.
hộ thống dễ âm thi bị bị mãi môn 1.2 Sử dụng chit phụ gia Polymer Sự giảm lực cản của các dung dich polymer đã được nghiên et u rộng rãi trong cả môi trường nước và môi trường hydrocarbon bởi nhiều nhà nghiên cứu. an đầu đã đề xuất hai loại giảm lực cản rong các dung địch polymer loãng. Các dung dich qué loãng cho thấy sự giảm lực căn lắc ban đầu được phát triển hoàn toàn trong vũng chảy rồi, sự giảm lực cản chi xuất hiện trên một số Reynolds ngay từ lúc ban đầu, nơi mà hệ số ma sit giảm xuống đưới hệ số ma sit đối với dòng chủy rồi của chit lòng Newton bình thường. Với số Reynolds thấp hơn giá tị lúc bắt đầu, sự giảm lực cản không xảy ra, Như vậy, có một ứng suất tiếp lúc bắt đầu và một giá trị ‘ing suất tiếp lúc bắt đầu.
Với dung dich polymer cô đặc, sự giảm lực can xuất hiện bởi sự mở rộng của các. vũng chay ting. Trong trường hop này, các điều kiện ban đầu đạt được cúc gi tỉ số Reynolds thấp, điều đó có nghĩa là vùng chuyển tiếp giữa chảy ting và chảy rồi không được tuân theo vi chuyên động chảy tầng của chat lỏng được mở rộng tới một vùng chảy ting được mỡ rộng hơn, nơi ma hệ số ma sit thấp hơn hệ số ma sát của ding chất long Newton chảy réi thông thường tại cùng một số Reynolds. Sy giảm lực cân tại đây và cũng rong sự giảm lực cin lúc ban đầu tăng cũng lưu lượng cho đến khi có một ứng suất tiếp tới han ở thành ống được đạt đến nơi mà tốc độ.
phân ly polymer trong vùng thành Sng vượt qué tốc độ nơi mã polymer được cung cấp thêm trong vùng này và sự giảm lực cản giảm bớt.3 Sử dụng chit phụ gia surfactant Cie surfactant thường là các hợp chất hữu cơ bao gồm các nhớm ky nước (phần đuôi) và các nhóm wa nước (phần đầu). Bởi vậy, một surfactant bao gdm một thành phan không hoa tan trong nước (hoặc hoà tan trong dầu) và một thành phần hoa tan trong nước. Các surfactant sẽ khuếch tan trong nước và hip thụ tại mặt phân cách giữa khí và nước hoặc tại mặt phân cách giữa dẫu và nước, trong trường hợp nơi mà nước được trộn với dầu. Hiệu quả giảm lực cản phụ thuộc vào loại chit phụ gia surfactant được sử dụng và sự bố trí hệ thống.
Khả năng tiết kiệm năng lượng khi sir dụng chất giảm lực cân sẽ tăng nếu hệ thống có it nhánh rẽ hoặc các ông ải hơn và cổ ít cút nối. Uu điểm của dung dich surfactant cao hơn các polymer là vì các cấu trúc nano của chúng cổ thể hồi phục li sau hi bị phá vỡ đo biển dang cắt lớn. Cấu trúc mixen của chất giảm lực cản surfactant thi lại có khả năng tự hẳn gắn sau kh bị suy thoái cơ học do ứng suất cắt. Các cấu trúc vĩ mô bị phá vỡ sẽ dB dàng lắp rip lại nhiều lần trong thời gian rất ngắn.
Do đồ các chit giảm lục cản surfactant không bị suy thoái sơ học trong vũng có ứng suất cắt cao như trong buỗng bom, Tuy nhiền các dưng dich surfactant cũng có một nhược điểm lớn do không thể sử dụng trong các hệ thống nước sinh hoạt cho các hộ din ew do sự ảnh hướng tí sức khỏe con người và chỉ được sử đụng trong các hệ thống sản x nghiệp như các hệ thống làm mát, sưởi ấm và điều hòa. Giảm lực cân sử dụng chất surfactant được ứng dung trong các hệ thing sisi âm và lâm lạnh khu vực. Các hệ thống này cung cắp hoặc loại bỏ nhiệt trong các tòa nhà hoặc một khu vực bằng sự tin hoàn của nước nông hoặc lạnh ti các trạm trung tâm, Năng lượng yêu cầu dé ạo đồng nước tuin hoàn chiếm khoảng 15% tổng năng lượng cho một hệ thông DHC.4 Sie dụng phương pháp tạo bạt khí Lực cản sinh ra khi một vật thé chuyển động trong chất ling với tốc độ khác biệt "Để giảm lực cân ma sét người ta tạo ra một đệm mỏng cổ định để ngăn cích dòng chiy với biên cứng bằng cách cấp (phun, thôi) khí liên tục qua bộ tạo khí vào lớp biên rối. Phương pháp nay còn được gọi là khí hỏa lớp biên hay bôi trơn bằng khí Phương pháp này chi phí it 6 tính khả thi cao.
Với sự phát triển của các công nghệ tao bot khí nhỏ, có thể giảm (20 + 75)% lực cản ma sit, (10 ~ 15)% lực cản toàn phần của tau thuyền. Việc nghiên cứu lý thuyết giảm lực cán vật khi phun khí vào. lớp biên sit bŠ mặt vật vẫn côn nhiều hạn chế so với nghiên cứu thực nghiệm do tính phức tạp của lớp biên đây đặc bot khí bao quanh vật. Về mặtlý thuyết, phương pháp phun khí vio lớp biên lim giảm lực cản ma sit là do tương quan giữa khối lượng riêng của nước và khối lượng tiêng của không khí đến hing tăm lần (chưa tính đến tổn thất năng lượng tạo lớp khí bôi tron) MeCormick và Bhattacharyya đã ghi lại các thí nghiệm giảm lực cản tàu vào năm 1973 bằng phương pháp tạo bọt khi nhờ hiện tượng điện phản.
Nhóm tác gid này tiến hành thực nghiệm với vật thể có chiều dai 91,5 em được kéo trong bể thứ. với tốc độ đi chuyên là 2,6 nưc và nhận thấy cổ sự ảnh hướng của bợi khí tới gidm lực cản, đặc biệt là khi thử nghiệm với số Reynolds thấp. Sau thử nghiệm tiên. hong này, nhiều nhà khoa học đã tgp tục nghiên eu và thử nghiệm phun bọt khí ‘Gi nhiều cách thức khác nhau.
Không chỉ dùng lại ở nghiên cứu lý thuyết và thi nghiệm trên mô hình, các nhà khoa học đã hành th nghiệm hệ thống phun bọt khí trên tau thực. Các nghiên cứu cho lige can ma sắt giảm theo từng điều kiện phun khí tối ưu tương ứng. Phun khí ở khu vực thượng nguồn có hiệu quả hơn so với khu vực ha nguồn. Điều thú vị là hiệu quả giảm lực cản ma sit của đông khí phun không tuyển tính với phần thể tích khí trong lớp biên, Các công nghệ giảm lực cân dựa trên cơ sở phun khi gồm có: xâm thực toàn phần, xâm thực một phần và phun khí tạo bọt nhỏ .Sự xâm thực có thể giảm lực cản, bởi vì một bề mặt bị xâm thực trên thự tế là không có ma sit, Đối với xâm thực toàn phin, thì lực căn này nhỏ hơn, giảm ma sát chỉ xây ra đối với lượng xâm thực cực thấp (nhỏ hơn 6%).
bổ với xâm thực một phần, không có bat lợi về lực cán và giảm lực cán đạt được ở các mức độ vừa phải. Dang xâm thực một phần không có sự bất lợi về lực cản có thể tồn tại với sự bổ sung của các xung xâm thực do gradien áp suất xuôi theo ding chiy của đuôi xâm thực. Từ các thứ nghiệm trên mô hình với các cánh thiết kế đặc biệt trong bé thử ở Trường Đại học Minesota vàở trên biển với tu trọng tải 100 tấn, đo được giảm lục cân (25+30)% nhờ xâm thực một phần. Sự giảm lực cân ma sát tỷ lệ với điện tích bị xâm thực.
Các chiều đài xâm thực và điện tích bị xâm thực. phụ thuộc vào tốc độ chuyển động của vật thể, Ngược lại với xâm thực toàn phản, lực cân của các bọt khí giảm so với tốc độ dòng (kết quả tốt nhất thu được ở tốc độ dong v = 4,7 mis), tác động của nó phụ thuộc vào hướng bổ mat. Công nghệ này có thể áp dung cho các tau diy phẳng tốc độ thấp. Tuy nhiên trong thực tế khai thác tàu, việc phun khí tại đáy cần quan tâm lớn tới vị tí đặt thiết bị phun khí sao cho khí không lot vào chân vị 12.5 Sử dụng Rilles Tir những hạn chế của các phương pháp ding sợi vả các chất phụ gia lim giảm lực cản th sử dụng Riblet cũng là một phương pháp làm giảm lực cản.
Việc sử đụng riblet được để giảm lục cin được lấy cảm himg từ bé mặt của da cá mập.