mở đầu này sẽ giới thiệu chung nhất về mạng cảm biến không dây cũng như các thành phần của mạng, cấu trúc của 1 node mạng, các yếu tố cần xem xét khi nghiên cứu về mạng cảm biến cũng như các ứng dụng thực tiễn vô cùng hữu ích trong nhiều lĩnh vực cuộc sống của mạng cảm biến không dây. Ngoài ra cũng sẽ đề cập đến một số khó khăn, thách thức cần cải thiện của mạng để đáp ứng tốt hơn với nhu cầu càng ngày càng cao của con người.1 Giới thiệu Mạng cảm biến không dây có 2 chức năng quan trọng là: mạng và cảm nhận. Mạng cảm biến không dây gồm các node liên kết với nhau bằng sóng vô tuyến với các node thường là các thiết bị đơn giản, nhỏ gọn, có khả năng cảm nhận thông tin từ môi trường tùy thuộc yêu cầu, giá thành thấp. Mạng thường có số node mạng lớn, được phân bố trên một diện tích nhất định, sử dụng nguồn năng lượng hạn chế (thường là pin), có thời gian duy trì từ vài tháng đến vài năm, có thể được triển khải ở những môi trường khắc nghiệt nhằm nhiệm vụ giám sát, cảnh báo.
Các node mạng có chức năng cảm nhận, quan sát môi trường xung quanh như nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng., định vị, theo dõi, thông báo các thông tin về mục tiêu cần giám sát. Các node giao tiếp với nhau và truyền dữ liệu về trạm trung tâm để xử lý thông tin. Vậy ta có thể hiểu mạng cảm biến không dây là mạng được triển khai với số lượng lớn các thiết bị nhỏ gọn, giá thành thấp, có nguồn năng lượng hạn chế, có khả năng cảm nhận, tính toán và thông tin liên lạc với các thiết bị khác nhằm mục đích phát hiện, giám sát, điều khiển trong môi trường nhất định. Mạng cảm biến không dây có những đặc điểm sau: Có khả năng tự tổ chức, tự vận hành.
Truyền thông tin quảng bá trong phạm vi nhất định. Triển khai với mật độ nhất định tùy thuộc yêu cầu và có khả năng kết nối giữa các node cảm biến. Cấu hình mạng có thể thay đổi định kỳ tùy thuộc vào sự suy giảm các node còn sống. Có giới hạn về mặt năng lượng, công suất, bộ nhớ, phạm vi thu phát.2 Cấu trúc mạng cảm biến không dây 1.1 Cấu trúc node mạng Để xây dựng nên mạng cảm biến không dây trước hết phải chế tạo và phát triển các node mạng cảm biến giúp cấu thành nên mạng.
Các node phải thỏa mãn một số yêu cầu nhất định tùy theo mục đích sử dụng cụ thể: Các node phải có kích thước nhỏ gọn, giá thành rẻ, hoạt động hiệu quả, có các thiết bị cảm biến có độ tin cậy cao, có khả năng tính toán và có bộ nhớ lưu trữ đáp ứng đủ yêu cầu, phải có khả năng thu phát sóng vô tuyến để thông tin liên lạc với các node khác và trạm cơ sở. Mỗi node cảm biến được cấu thành bởi 4 phần cơ bản: bộ cảm biến (a sensing unit), bộ xử lý( a processing unit), bộ thu phát (a transceiver unit) và bộ nguồn ( a power unit). Ngoài ra còn có thể có thêm những thành phần khác tùy thuộc ứng dụng như hệ thống định vị (location finding system), bộ phát nguồn ( a power generator) và bộ phận di dộng (mobilizer).1 Các thành phần của 1 node cảm biến Các bộ phận cảm biến (sensing units) bao gồm cảm biến và bộ chuyển đổi tương tự-số (ADC). Dựa trên những hiện tượng quan sát được, tín hiệu tương tự tạo ra bởi sensor được chuyển sang tín hiệu số bằng bộ ADC, sau đó được đưa vào bộ xử lý.
Bộ xử lý thường được kết hợp với bộ lưu trữ (storage unit), quyết định các thủ tục làm cho các node kết hợp với nhau để thực hiện các nhiệm vụ nhất định. Phần thu phát vô tuyến kết nối các node vào mạng. Chúng gửi và nhận các dữ liệu thu được từ chính nó hoặc các node lân cận tới các node khác hoặc tới base station. z 9 Một trong số các phần quan trọng nhất của một node mạng cảm biến là bộ nguồn.
Bộ nguồn thường là một số loại pin có năng lượng hạn chế. Để các node có thời gian sống lâu thì bộ nguồn rất quan trọng, nó nên có khả năng nạp điện từ môi trường như là năng lượng ánh sáng mặt trời. Ngoài ra cũng có những thành phần phụ khác phụ thuộc vào từng ứng dụng. Hầu hết các kĩ thuật định tuyến và các nhiệm vụ cảm biến của mạng đều yêu cầu có độ chính xác cao về vị trí.
Vì vậy cần phải có các bộ định vị. Các bộ phận di động, đôi lúc cần để dịch chuyển các node cảm biến khi cần thiết để thực hiện các nhiệm vụ đã ấn định như cảm biến theo dõi sự chuyển động của vật nào đó.2 Cấu trúc toàn mạng cảm biến không dây 1.1 Cấu trúc mạng Cấu trúc mạng cảm biến không dây cần được thiết kế sao cho sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên hạn chế của mạng, kéo dài thời gian sống của toàn mạng. Vì vậy thiết kế cấu trúc mạng và kiến trúc mạng cần đáp ứng những yếu tố kĩ thuật như: Giao tiếp không dây multihop: Khi giao tiếp không dây là kĩ thuật chính thì giao tiếp trực tiếp giữa 2 node mạng sẽ có nhiều hạn chế do khoảng cách hoặc vật cản. Đặc biệt là khi node phát và node thu cách nhau càng xa thì càng cần công suất càng lớn.
Vì vậy cần có các node trung gian để làm node chuyển tiếp làm giảm công suất tổng thể. Do đó các mạng cảm biến không dây cần dùng giao tiếp multihop. Hoạt động hiệu quả năng lượng: để hỗ trợ việc kéo dài thời gian sống của toàn mạng, sử dụng hiệu quả năng lượng là kĩ thuật rất quan trọng trong mạng cảm biến không dây. Tự động cấu hình: Mạng cảm biến không dây cần phải cấu hình các thông số một cách tự động.
Chẳng hạn như các node có thể tự xác định vị trí của nó thông qua các node khác. Cộng tác, xử lý trong mạng và tập trung dữ liệu: Trong một số ứng dụng một node cảm biến không thu thập đủ dữ liệu cần phải có nhiều node cùng tham gia cộng tác hoạt động để thu thập đủ dữ liệu, khi đó nếu từng node tự thu thập dữ liệu rồi gửi ngay z 10 dữ liệu đó đến trạm cơ sở thì sẽ rất tốn băng thông và năng lượng. Cần phải kết hợp các dữ liệu của nhiều node trong 1 phân vùng nhất định, xử lý sơ bộ sau đó mới gửi tới trạm cơ sở giúp tiết kiệm băng thông và năng lượng tiêu thụ. Do đó, cấu trúc mạng mới cần thiết kế thỏa mãn các yêu cầu như: Kết hợp vấn đề năng lượng và khả năng định tuyến.
Tích hợp dữ liệu và giao thức mạng. Truyền năng lượng hiệu quả qua các phương tiện không dây. Chia sẻ nhiệm vụ giữa các node lân cận nhau. Các node cảm biến được phân bố trong 1 vùng cảm biến như hình dưới.
Mỗi node cảm biến có khả năng thu thập dữ liệu và định tuyến lại đến các trạm cơ sở. Dữ liệu được định tuyến lại đến trạm cơ sở bởi cấu trúc đa điểm. Các trạm cơ sở có thể giao tiếp với các node quản lý nhiệm vụ qua mạng Internet hoặc vệ tinh.2 Cấu trúc mạng cảm biến không dây 1.2 Hai cấu trúc đặc trƣng của mạng cảm biến không dây a, Cấu trúc phẳng (flat architecture) z 11 Hình 1.3 Cấu trúc phẳng Trong cấu trúc phẳng, tất cả các node đều ngang hàng và đồng nhất trong hình dạng và chức năng. Các node giao tiếp với sink qua multihop sử dụng các node ngang hàng làm bộ chuyển tiếp.
Với phạm vi truyền cố định, các node gần trạm cơ sở hơn sẽ đảm bảo vai trò là bộ chuyển tiếp đối với một lượng lớn nguồn tiêu thụ. Giả thiết tất cả các nguồn đều dùng cùng 1 tần số để truyền dữ liệu, vì vậy cần chia sẻ thời gian. Tuy nhiên cách này chỉ có hiệu quả với điều kiện là có nguồn chia sẻ đơn lẻ, ví dụ như thời gian hoặc tần số. b, Cấu trúc phân cấp (tiered architecture) Trong cấu trúc phân cấp, các cụm được tạo ra giúp các tài nguyên trong cùng một cụm gửi dữ liệu single hop hay multihop tùy thuộc vào kích thước của cụm đến node định sẵn, thường là node chủ (cluster head).
Trong cấu trúc này các node tạo thành một hệ thống phân cấp mà ở đó mỗi node ở 1 mức xác định thực hiện các nhiệm vụ đã được định sẵn.4 Cấu trúc phân cấp Trong cấu trúc phân cấp thì chức năng cảm nhận, tính toán và phân phối dữ liệu không đồng đều giữa các node. Những chức năng này có thể phân chia theo cấp, cấp thấp nhất thực hiện các nhiệm vụ cảm nhận, cấp giữa thực hiện tính toán và cấp trên cùng phân phối dữ liệu.5 Cấu trúc mạng phân cấp chức năng theo lớp Các nhiệm vụ xác định có thể được phân chia không đồng đều giữa các lớp, ví dụ mỗi lớp có thể thực hiện một nhiệm vụ xác định trong tính toán. Trong trường hợp này, các cảm biến ở cấp thấp nhất đóng vài trò là bộ lọc thông dải đơn giản để tách nhiễu khỏi z 13 tín hiệu, trong đó các node ở cấp cao hơn ngừng việc lọc dữ liệu này và thực hiện các chức năng như tính toán, phân phối dữ liệu. Mạng cảm biến không dây xây dựng theo cấu trúc phân cấp hoạt động hiệu quả hơn mạng cấu trúc phẳng bởi các lý do sau: Cấu trúc phân cấp có thể giảm chi phí mạng cảm biến bằng việc định vị các tài nguyên ở vị trí mà chúng hoạt động hiệu quả nhất.
Rõ ràng là nếu triển khai các phần cứng thống nhất, mỗi node chỉ cần 1 lượng tài nguyên tối thiểu để thực hiện tất cả các nhiệm vụ. Vì số lượng các node cần thiết phụ thuộc vào vùng phủ sóng nhất định, chi phí của toàn mạng vì thế sẽ không quá cao. Thay vào đó, nếu số lượng lớn các node có chi phí thấp được chỉ định để phân tích dữ liệu, định vị và đồng bộ, chi phí toàn mạng sẽ giảm xuống. Mạng cấu trúc phân cấp sẽ có tuổi thọ cao hơn mạng phẳng.
Khi cần tính toán nhiều thì bộ xử lý nhanh sẽ hiệu quả hơn, phụ thuộc vào thời gian yêu cầu thực hiện tính toán. Tuy nhiên, với các nhiệm vụ cảm nhận cần hoạt động trong khoảng thời gian dài, các node tiêu thụ ít năng lượng phù hợp với yêu cầu xử lý tối thiểu sẽ hoạt động hiệu quả hơn.