chương 1 được trích từ các tài liệu [1], [2] 1. Tác động và phân loại thiết bị tự động đóng lại Phân tích số liệu thống kê về sự cố của đường dây trên không cho thấy có đến 80-90% hư hỏng mang tính thoáng qua (như phóng điện bề mặt, sét đánh,…) giới hạn dưới (80%) thường gặp trong lưới 6-110kV còn giới hạn trên thường gặp đối với các đường dây trên không từ 220kV trở lên. Còn 20-10% các trường hợp hư hỏng còn lại là hư hỏng bán duy trì hoặc duy trì. Hư hỏng bán duy trì có thể do vật lạ (cây cối, dây diều…) vắt qua đường dây gây ngắn mạch và được loại trừ sau khi tia lửa điện (hồ quang) đốt cháy hoàn toàn vật lạ.
Hư hỏng duy trì có thể do đứt dây dẫn rơi chạm đất, hỏng cách điện đường dây hoặc các thao tác sai như quên bỏ nối đất khi đóng điện sau sửa chữa. Như vậy, đối với đa số trường hợp hỏng hóc trên đường dây tải điện trên không nếu sau khi máy cắt cắt một khoảng thời gian đủ để môi trường chỗ hư hỏng khôi phục lại tính cách điện ta đóng trở lại đường dây thì đường dây có thể tiếp tục làm việc bình thường. Các thiết bị tự động đóng lại (TĐL) có thể được phân loại: Duy Thanh 12 Luận văn thạc sĩ khoa học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội - Theo số lần đóng lại: Một lần hoặc hai lần. Đối với loại ngắn mạch bán duy trì có thể sau lần cắt đầu tiên của máy cắt nguyên nhân gây ngắn mạch chưa được loại trừ nên khi đóng lại nguồn điện lại phát sinh sự cố và hồ quang lần này có thể đốt cháy hoàn toàn vật lạ và nếu đóng trở lại lần thứ 2 sẽ thành công.
TĐL hai lần thường chỉ áp dụng chi lưới 110kV trở xuống. Sau số lần tác động đã được quy định thiết bị TĐL sẽ bị khóa lại. - Theo số pha thực hiện TĐL: Phân biệt TĐL ba pha và TĐL một pha. Trong sơ đồ TĐL ba pha khi hư hỏng một hay nhiều pha, thiết bị bảo vệ sẽ cắt cả 3 pha và TĐL cả ba pha.
Trong sơ đồ TĐL một pha khi hư hỏng máy cắt của từng pha sẽ tác động và TĐL lại pha bị cắt. Trong thời gian sự cố một pha, hai pha không bị sự cố vẫn làm việc bình thường. Nếu ngắn mạch một pha là duy trì, thì sau khi TĐL không thành công bảo vệ tác động cắt cả ba pha và khóa thiết bị TĐL lại. - Theo sự cần thiết phải kiểm tra đồng bộ: Khi thực hiện TĐL 3 pha đường dây có hai nguồn cung cấp, nếu thời gian đóng trở lại kéo dài cần phải kiểm tra đồng bộ của hai nguồn điện ở hai đầu máy cắt.
Đối với đường dây được cung cấp từ một phía có thể sử dụng TĐL không kiểm tra đồng bộ. Tùy theo cách kiểm tra đồng bộ người ta lại phân ra: • TĐL chờ thời điểm đồng bộ. • TĐL tự chọn thời điểm đồng bộ. • TĐL tự đồng bộ các máy phát điện, động cơ đồng bộ và máy bù đồng bộ.
- Một số cách phân loại khác: Ngoài những cách phân loại TĐL thường gặp người ta còn có thể phân loại TĐL theo: • Đối tượng được thực hiện TĐL: TĐL đường dây, thanh góp, máy biến áp, động cơ… Duy Thanh 13 Luận văn thạc sĩ khoa học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội • Theo cách tác động lên bộ truyền động của máy cắt điện: Truyền động cơ khí, truyền động điện, truyền động thủy lực • Theo tần số: TĐL thực hiện cắt phụ tải khi tần số xuống thấp và đóng lại khi tần số khôi phục lại trị số bình thường. Yêu cầu đối với thiết bị TĐL Thiết bị TĐL bao gồm nhiều chủng loại, tuy nhiên tất cả chúng đều phải thỏa mãn những yêu cầu chung sau đây: - TĐL phải được khởi động sau khi máy cắt đã tự động cắt ra, ngoại trừ trường hợp khi đóng máy cắt vào sự cố ngắn mạch và thiết bị bảo vệ đã tác động máy cắt ngay sau khi đóng vào sự cố. - TĐL không được làm việc khi nhân viên vận hành cắt máy cắt bằng tay tại chỗ hoặc từ xa. - Sơ đồ TĐL phải đảm bảo khả năng cấm hoạt động (khóa TĐL) trong một số trường hợp như khi bảo vệ so lệch hoặc bảo vệ bằng rơle khí đặt ở MBA tác động chứng tỏ sự cố bên trong thùng dầu MBA, nếu TĐL có thể làm hư hỏng nặng thêm.
- Thiết bị TĐL phả đảm bảo đúng số lần tác động: tức số chu kỳ đóng lặp lại liên tiếp cần phải được thực hiện. Cần lưu ý rằng thông thường chỉ lên thực hiện TĐL 1 lần , TĐL 2 lần thường được sử dụng ở các đường dây cụt hoặc ở lưới phân phối để tăng độ tin cậy cung cấp điện của các đường dây đơn có 1 nguồn cung cấp. Xác suất thành công của TĐL lần 2 thường không cao (Bảng 1.1) trong khi đó máy cắt phải làm việc nặng nền hơn và nếu TĐL không thành công có thể làm xấu đi điều kiện ổn định của các đường dây truyền tải. Duy Thanh 14 Luận văn thạc sĩ khoa học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Bảng 1.1: Xác suất thành công của TĐL đường dây trên không Số lần TĐL Cấp điện áp (kV) Xác suất thành công (%) Một lần 2-10 53.2 Một lần 110-330 75 Hai lần 110-330 75-80 Một lần 400-500 50 - Thiết bị TĐL phải đảm bảo khoảng thời gian không điện (thời gian chết) cần thiết giữa thời điểm hồ quang bị dập tắt trong buồng dập hồ quang của máy cắt và thời điểm các đầu tiếp xúc chính của máy cắt chạm nhau khi đóng trở lại.
Theo quan điểm nâng cao độ tin cậy HTĐ thời gian mất điện càng bé càng tốt tuy nhiên, phải chú ý đến những ràng buộc khác như khử ion tại chỗ sự cố, khôi phục khả năng cắt của máy cắt điện, khôi phục khả năng sẵn sàng của bộ truyền động máy cắt. - Độ dài tín hiệu điều khiển đóng máy cắt phải đủ lớn để đảm bảo việc đóng được thực hiện một cách chắc chắn (kể cả những máy cắt tác động chậm). - Thiết bị TĐL phải tự động trở về trạng thái xuất phát sau một khoảng thời gian nhất định, thời gian tự động trở về của thiết bị TĐL là khoảng thời gian từ lúc TĐL được khởi động cho đến lúc nó trở lại trạng thái ban đầu. - Khi có trục trặc trong thiết bị TĐL phải loại trừ khả năng việc đóng lặp lại máy cắt nhiều lần vào ngắn mạch duy trì để ngăn ngừa khả năng làm hỏng máy cắt, làm mất ổn định của hệ thống hoặc gây cháy, nổ.
Duy Thanh 15 Luận văn thạc sĩ khoa học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội - Tác động của thiết bị TĐL cần được phối hợp với tác động của thiết bị rơle và các thiết bị tự động khác của hệ thống điện như kiểm tra đồng bộ, thiết bị tự động sa thải phụ tải theo tần số… 1. Các đại lượng thời gian trong quá trình tự đông đóng lại - Thời gian cắt của máy cắt điện: Thời gian tính từ lúc mạch của máy cắt được mang điện đến lúc hồ quang được dập tắt. - Thời gian làm việc của bảo vệ: Thời gian tính từ lúc bảo vệ nhận tín hiệu sự cố đến lúc phát tín hiệu cắt máy cắt. - Thời gian tồn tại của hồ quang điện trong máy cắt: Là thời gian từ khi các đầu tiếp xúc chính của máy cắt điện tách nhau ra (phát sinh hồ quang) đến khi hồ quang điện bị dập tắt.
- Độ dài xung đóng của TĐL: Là khoảng thời gian tiếp điểm đầu ra của thiết bị TĐL ở trạng thái kín. - Thời gian đóng của máy cắt điện: Thời gian từ lúc đóng mạch của máy cắt được mang điện đến khi tiếp điểm chính của máy cắt được thông mạch. - Thời gian khử ion: Là thời gian cần thiết để vùng không khí chỗ sự cố khôi phục lại tính cách điện đảm bảo cho khi đóng điện trở lại không phát sinh hồ quang lần nữa… Thời gian này phụ thuộc vào cấp điện áp, khoảng cách giữa các phần mang điện, dòng điện sự cố. thời gian tồn tại sự cố, điện dung của các phần tử lân cận với phần tử được TĐL và điều khiện môi trường.
Trong đó cấp điện áp đóng vai trò quyết định, nói chung cấp điện áp càng cang thời gian khử ion càng kéo dài. Duy Thanh 16 Luận văn thạc sĩ khoa học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Bảng 1.2: Thời gian khử ion tối thiểu theo cấp điện áp Cấp điện áp (kV) Thời gian khử ion tối thiểu (giây) 66 0,1 110 0,15 132 0,17 220 0,28 275 0,3 400 0,5 Trường hợp TĐL một pha thời gian khử ion kéo dài hơn khi TĐL ba pha vì khi TĐL một pha trong thời gian mất điện pha sự cố, tại chỗ ngắn mạch có thể phát sinh và tồn tại hồ quang thứ cấp do các liên hệ điện dung và hỗ cảm giữa các pha không hư hỏng còn đang mang điện với các pha bị sự cố đã được cắt điện. - Thời gian sẵn sàng của TĐL: Thời gian từ lúc tiếp điểm của rơle TĐL khép lại gửi tín hiệu đóng máy cắt đến khi nó sẵn sàng làm việc cho chu trình TĐL tiếp theo. - Thời gian tự đóng trở lại (t TĐL ): Thời gian từ lúc TĐL được khởi động cho đến lúc mạch đóng của máy cắt được cấp điện.
- Thời gian chết (Dead time): Thời gian từ lúc hồ quang bị dập tắt đến lúc tiếp điểm chính của máy cắt tiếp xúc trở lại. - Thời gian nhiễu loạn hệ thống: Là khoảng thời gian từ lúc phát sinh sự cố đến khi máy cắt đóng trở lại thành công. Duy Thanh 17 Luận văn thạc sĩ khoa học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội 1. Ưu nhược điểm của TĐL một pha và TĐL ba pha Trong các lưới điện cao áp và siêu cao áp có trung tính trực tiếp nối đất người ta thường sử dụng thiết bị tự động đóng trở lại một pha (TĐL1P) bởi vì trong các lưới điện này tỷ lệ ngắn mạch một pha lớn hơn nhiều so với các dạng ngắn mạch khác (trung bình khoảng 70-90% các trường hợp ngắn mạch).
Để loại trừ các sự cố một pha thoáng qua chỉ cần cắt pha bị ngắn mạch sau đó đóng nó trở lại. Hai pha còn lại không bị hư hỏng vẫn tiếp tục làm việc.