Chương 1 đã giới thiệu tổng quan về các thế hệ thông tin di động, đặc biệt là hệ thống WCDMA cũng như các ảnh hưởng của nhiễu trong hệ thống thông tin di động. Ở cuối chương là phần giới thiệu về các kỹ thuật phân tập để giảm bớt nhiễu trong hệ thống vô tuyến và trong chương 2, ta sẽ đi sâu nghiên cứu về kỹ thuật phân tập không gian và thời gian. Trang 24 Nghiên cứu giải pháp phân tập không gian – thời gian trong hệ thống W-CDMA CHƢƠNG 2 KHÁI NIỆM PHÂN TẬP KHÔNG GIAN - THỜI GIAN 2. Dung lượng của hệ thống mạng tổ ong bị giới hạn bởi 2 yếu tố chính, đó là nhiễu fading và nhiễu giao thoa sóng (multiple access interference: MAI).
Một bộ thu hai chiều (2-D) có thể giảm được các nhiễu như trên bằng cách xử lý tín hiệu thu được trên cả hai miền không gian và thời gian. Ở đây, xử lý tín hiệu trong miền không gian là tiến hành xử lý tín hiệu bằng cách phân tập anten, còn xử lý tín hiệu trên miền thời gian là tiến hành xử lý tín hiệu thu bằng cách phân tập thời gian. Việc kết hợp 2 kỹ thuật phân tập trên cho tín hiệu sẽ làm tăng chất lượng của tín hiệu tại bộ thu. Mặc dù bộ thu 2D này có khả năng xử lý tín hiệu đồng thời trên miền không gian và thời gian nhưng điều này lại đòi hỏi mức độ tính toán phức tạp.
Do đó trong chương 2 này, chúng ta sẽ làm quen với một số giải pháp để xử lý tín hiệu trong miền không gian và thời gian. Mảng anten thích nghi [3] có khả năng chống lại nhiễu fading hay MAI chỉ bằng cách xử lý không gian. Khi các thuê bao của hệ thống mạng trao đổi thông tin từ các địa điểm khác nhau thì mỗi thuê bao sẽ có một thông tin không gian duy nhất liên quan tới thuê bao đó. Và mảng anten thích nghi có thể dựa vào đặc tính không gian của tín hiệu để giảm bớt nhiễu MAI, việc xử lý này được thực hiện bởi bộ Beamformer và đây có thể là một giải pháp hữu hiệu để cải thiện cho hệ thống CDMA hoạt động tốt trong các kênh tín hiệu giao thoa với nhau.
Dung lượng của hệ thống CDMA có thể được tăng lên bằng cách giảm bớt nhiễu giao thoa co-channel. Anten mảng là tập hợp gồm nhiều anten thành phần được bố trí tại những vị trí khác nhau trong không gian mảng và vị trí của các phần tử ănten này luôn đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo ra chất lượng của đồ thị bức xạ. Một đồ thị Trang 25 Nghiên cứu giải pháp phân tập không gian – thời gian trong hệ thống W-CDMA bức xạ đạt chất lượng cao trong ănten mảng là búp sóng chính lớn hơn rất nhiều so với các búp phụ khác và hướng về phía thuê bao mong muốn, các nút sóng chỉ về phía các thuê bao nhiễu đồng kênh trong cell đó. Góc phát xạ của một mảng được xác định dựa vào góc phát xạ của các anten thành phần, vào sự định hướng, vào vị trí của các anten, vào biên độ và pha của tín hiệu đến.
Nếu các anten của mảng là đẳng hướng thì góc phát xạ của mảng sẽ chỉ phụ thuộc vào cấu trúc không gian của mảng và tín hiệu đến mảng [3]. Trong trường hợp này, góc phát xạ của mảng được gọi là hệ số mảng. Nếu các phần tử của mảng giống nhau nhưng không đẳng hướng thì góc phát xạ của mảng được tính theo hệ số mảng và các góc phát xạ thành phần. Cấu trúc sắp xếp của các phần tử ănten.
Các anten thành phần trong anten mảng có thể được sắp xếp theo các cấu trúc hình học bất kỳ. Tuỳ theo cách sắp xếp đó mà mảng có thể là mảng đường, mảng tròn hay mảng phẳng. Mảng đường và mảng tròn là trường hợp đặc biệt của mảng phẳng. y x y x x (a) Giµn ®-êng th¼ng (b) Giµn h×nh trßn y y y z x x z y x x (c) Giµn h×nh ch÷ nhËt (d) Giµn h×nh lËp ph-¬ng Hình 2.1 - Các loại cấu trúc ănten mảng - Cấu trúc mảng đường thẳng: Đây là cấu trúc thông dụng nhất vì nó đơn giản, được sử dụng khi BS được chia thành nhiều vùng phủ sóng hình quạt.
Trong Trang 26 Nghiên cứu giải pháp phân tập không gian – thời gian trong hệ thống W-CDMA cấu trúc này, khoảng cách giữa các phần tử là x. Búp sóng chính của hệ thống có thể phủ sóng trong một hình quạt. - Cấu trúc mảng hình tròn: Các phần tử ănten tạo với tâm hệ thống một góc 2 / N. Búp sóng chính của đồ thị bức xạ phủ toàn vùng ngang.
- Cấu trúc mảng chữ nhật và mảng lập phương: Điều khiển búp sóng theo cả hai phương dọc và ngang. Hai cấu trúc này cần thiết cho môi trường truyền sóng phức tạp (đô thị đông đúc). Về mặt lý thuyết nếu hệ thống có L phần tử ănten, có thể tạo L-1 nút sóng hướng về phía các thuê bao nhiễu đồng kênh trong cell.Tuy nhiên trong môi trường đa đường thì con số này có thể nhỏ hơn. Nếu khoảng cách giữa các phần tử trong mảng đường thẳng bằng nhau thì mảng được gọi là mảng anten dãy (ULA).2 mô tả một mảng ULA gồm N phần tử.
Khoảng cách giữa các phần tử trong mảng là d. Góc tín hiệu truyền đến mảng là θ (còn gọi là góc AOA) .2 - Mảng anten ULA Tín hiệu thu được tại anten đầu tiên của mảng được biểu diễn như sau : x1 (t ) A1 (t ) cos{2f c t (t ) } (2.1) Với: A1(t): là biên độ tín hiệu đến anten. Trang 27 Nghiên cứu giải pháp phân tập không gian – thời gian trong hệ thống W-CDMA fc : Tần số sóng mang của tín hiệu. γ(t): Hàm biểu thị sự biến đổi tín hiệu.
Ngoài ra tín hiệu thu được tại phần tử đầu tiên có thể viết như sau : x1 (t ) A1 (t )e j{ (t ) } (2.2) Giả thiết rằng tín hiệu có dạng sóng phẳng được truyền đến mảng từ một khoảng cách rất xa và trong môi trường truyền đồng chất. Lúc này tín hiệu đến các phần tử trong mảng sẽ có sự sai biệt về thời gian. Tín hiệu đến phần tử thứ 2 trong mảng sẽ chậm hơn phần tử thứ nhất một khoảng thời gian là , tương tự phần tử thứ N sẽ trễ một khoảng là N. Như thế ta có thể biểu diễn tín hiệu thu được tại các phần tử khác trong mảng theo biểu thức tín hiệu thu được tại phần tử thứ nhất.
Trong hình vẽ 2.2, ta có thời gian trễ là : d sin (2.3) c với c là vận tốc truyền sóng ánh sáng. Vậy ta có biểu thức tín hiệu thu được tại phần tử thứ 2 là : x 2 (t ) x1 (t ) A1 (t ) cos{2 .4) Thông thường fc là rất lớn so với dãy thông của tín hiệu ,vì vậy biểu thức (2.4) có thể được viết như sau: x 2 (t ) A(t ) cos{2f c t 2f c (t ) } (2.7) Do đó tín hiệu nhận được tại phần tử thứ i của mảng là (i=1:N) Trang 28 Nghiên cứu giải pháp phân tập không gian – thời gian trong hệ thống W-CDMA d j{2 ( i 1) sin } xi (t ) x1 (t ).8) Ta định nghĩa một trường vector dùng để biểu diễn tất cả các tín hiệu thu được trên các phần tử của mảng. Trường vector tín hiệu đó được biểu diễn như sau : x(t) =[x1(t) x2(t) ….9) Ta cũng định nghĩa trường vector đáp ứng a ( ) của mảng như sau: d d j{2 sin } j{2 ( N 1) sin } a = [1 e …… e ]T (2.10) Vector đáp ứng của mảng là một trường các giá trị phụ thuộc vào góc tín hiệu truyền đến mảng, vào cấu trúc hình học của mảng, cách bố trí các phần tử trong mảng và phụ thuộc vào tần số của tín hiệu đến mảng. Ta giả thiết rằng trong phạm vi thay đổi của tần số sóng mang thì Vector đáp ứng của mảng không thay đổi.
Khi cấu trúc của mảng không thay đổi (ví dụ mảng ULA) và các phần tử của mảng là đẳng hướng thì vector đáp ứng của mảng chỉ phụ thuộc vào AOA (góc tín hiệu đến mảng). Lúc này vector tín hiệu nhận được từ mảng có thể viết như sau : x(t ) a( ) x(t ) (2.11) Để có được các điều trên thì ta phải giả thiết băng thông của tín hiệu phải nhỏ hơn nhiều lần thời gian truyền tín hiệu qua mảng. Giả thiết cho hiện tượng này được gọi là narrowband, tức là các tín hiệu thu được trong các phần tử của mảng sẽ có sự sai pha lẩn nhau nhưng sự sai pha này có thể là bé. Vì thế mô hình narrowband vẫn chính xác cho những tín hiệu biến thiên dạng hình sin, đặc biệt là ở những tín hiệu có băng thông rất nhỏ so với thời gian truyền sóng qua mảng.
Cũng vì lí do đó mà khi thực hiện mô hình Beamformer để giảm thiểu sự giao thoa thì cũng phải nằm trong giới hạn cho phép của hiện tượng narrowband. Trong toàn bộ luận văn này, chúng ta giả thiết là tín hiệu W-CDMA thoả mãn narrowband. Thời gian trễ trong quá trình truyền sóng từ phần tử đầu tiên đến phần tử cuối cùng của mảng được tính như sau : Trang 29 Nghiên cứu giải pháp phân tập không gian – thời gian trong hệ thống W-CDMA ( N 1)d sin max (2.12) c Nếu khoảng cách giữa các phần tử trong mảng là thì: 2 ( N 1) max 2 (2.13) c c ( N 1) 2 fc ( N 1) max c 2 fc Nếu mảng có 4 phần tử và fc = 2GHz thì ta có: 3 max 2.10 6 Với hệ thống W-CDMA có băng thông tín hiệu là 5MHz. Tỉ số giữa max và băng thông tín hiệu được tính như sau : 3 5.10 6 Như vậy giả thiết narrowband phù hợp với hệ thống W-CDMA.
Kỹ thuật Beamformer. Beamforming là một kỷ thuật xử lý không gian chung nhất được thực hiện trong các anten mảng. Trong hệ thống mạng di động tổ ong, tín hiệu hữu ích của một cell thường bị tín hiệu các cell khác trộn lẫn vào gây nên hiện tượng nhiễu giao thoa tín hiệu. Bộ Beamformer có thể phân tách các tín hiệu trong vùng giao thoa sóng để lấy ra tín hiệu mong muốn của cell đó.