Tổng quan luận án
Bệnh bụi phổi silic (BPSi) theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) là bệnh lý xơ hóa lan tỏa không hồi phục của nhu mô phổi, phát triển ở người lao động do hít phải bụi chứa dioxyd silic tự do (SiO2) trong thời gian làm việc. Bệnh vẫn tiến triển ngay cả khi người lao động đã ngừng tiếp xúc, thường dẫn đến các biến chứng nặng nề như lao phổi, tâm phế mạn, suy hô hấp và tử vong, trong đó lao phổi là biến chứng phổ biến hàng đầu. Theo số liệu được tác giả tổng thuật, tỷ lệ hiện mắc BPSi ở những người lao động tiếp xúc trực tiếp với bụi silic tại các quốc gia đang phát triển dao động từ 20% đến 50%. Tại Việt Nam, BPSi là bệnh nghề nghiệp được công nhận và đền bù từ năm 1976. Theo báo cáo năm 2020 của Cục Quản lý môi trường y tế (Bộ Y tế), BPSi chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng số các bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm xã hội (chiếm 70,8%).
Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra là: các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam và trên thế giới chủ yếu tập trung vào việc đánh giá hiện trạng môi trường lao động hoặc hiệu quả của các giải pháp kỹ thuật công nghệ nhằm giảm phát sinh bụi tại nguồn. Tuy nhiên, các can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe ứng dụng công nghệ trên nền tảng điện thoại thông minh nhằm cải thiện kiến thức, thái độ và thực hành (KAP) phòng bệnh cho người lao động tại Việt Nam chưa được tiến hành nghiên cứu thực địa bài bản. Tỉnh Thái Nguyên là trung tâm công nghiệp luyện kim, nơi có hàng ngàn lao động làm việc trong môi trường tiếp xúc bụi silic nồng độ cao. Kết quả quan trắc giai đoạn 2018-2020 tại Nhà máy luyện thép Lưu Xá và Nhà máy luyện gang thuộc Công ty Cổ phần Gang thép Thái Nguyên cho thấy nồng độ bụi vượt tiêu chuẩn cho phép từ 5 đến 30 lần, tỷ lệ mẫu bụi hô hấp vượt giới hạn cho phép tại nhà máy luyện thép lên đến 61,5% (8/13 mẫu), nhiệt độ vượt tiêu chuẩn 40,0% (8/20 mẫu).
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm 2 mục tiêu:
- Phân tích đặc điểm dịch tễ học bệnh bụi phổi silic ở một số cơ sở sản xuất có nguy cơ cao tại Thái Nguyên năm 2018-2019.
- Đánh giá giải pháp can thiệp giảm nguy cơ mắc bệnh bụi phổi silic ở một số cơ sở sản xuất có nguy cơ cao tại Thái Nguyên.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Người lao động trực tiếp tiếp xúc với bụi silic tại các phân xưởng sản xuất có nguy cơ cao; cán bộ quản lý, nhân viên y tế cơ sở và cán bộ an toàn vệ sinh lao động tham gia phỏng vấn định tính.
- Phạm vi không gian: Nhà máy luyện thép Lưu Xá và Nhà máy luyện gang thuộc Công ty Cổ phần Gang thép Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
- Phạm vi thời gian: Số liệu dịch tễ học và can thiệp được thu thập, triển khai trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2019.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng thuật hệ thống các công trình dịch tễ học bệnh BPSi trên thế giới và trong nước. Trên bình diện quốc tế, số liệu tại Ba Lan giai đoạn 2000-2019 ghi nhận 2.066 trường hợp mắc BPSi (chiếm 12,2% tổng số bệnh bụi phổi), với hơn 70% bệnh nhân có thời gian tiếp xúc bụi trên 20 năm, tập trung ở ngành đúc sắt, khai thác đá và xây dựng. Tại Ấn Độ, nghiên cứu năm 2020 trên thợ mỏ sa thạch ghi nhận tỷ lệ mắc BPSi là 12,3%, trong đó 90% tổn thương thuộc nhóm 1 và nhóm 2 theo phân loại ILO. Tại Trung Quốc, nghiên cứu năm 2020 ở Hồ Nam trên 651 lao động cho thấy tuổi khởi phát bệnh trung bình là 54,29 tuổi và tuổi nghề phơi nhiễm trung bình 14,15 năm; tại Quảng Nguyên có 3.920 trường hợp mắc bệnh bụi phổi được ghi nhận với 1.313 ca BPSi. Tại Tây Ban Nha, các khảo sát năm 2019 và 2020 trên công nhân chế tác thạch anh và đá nhân tạo xác định tỷ lệ mắc BPSi cao, xuất hiện ở nhóm tuổi còn trẻ (tuổi trung bình từ 33 đến 36 tuổi, phơi nhiễm trung bình 12 năm). Các công trình tại Brazil (2019) ghi nhận tỷ lệ mắc 28% ở thợ khai thác đá bán quý, tại Iran (2014) là 12,5% ở thợ mài đá mã não, và báo cáo tại Anh (1996-2017) ghi nhận 216 ca BPSi thuộc 8 nhóm nghề với 98% là nam giới.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu dịch tễ học trước đây đã phản ánh tỷ lệ mắc BPSi ở nhiều ngành nghề khác nhau: Tạ Thị Kim Nhung ghi nhận tỷ lệ mắc BPSi ở Đồng Nai là 8%; Nguyễn Minh Đức tại Bình Định ghi nhận tỷ lệ 23%; Nguyễn Văn Thuyên và Hoàng Việt Phương (2014) ghi nhận tỷ lệ mắc BPSi nghề nghiệp là 21,43% và rối loạn thông khí chung là 22,86%; Huỳnh Thanh Hà và Trịnh Hồng Lân (2008) tại Bình Dương ghi nhận tỷ lệ 12,13%; Đào Xuân Vinh và cộng sự (2006) tại các cơ sở vật liệu xây dựng ghi nhận tỷ lệ chung 3,8%, trong đó nhóm khai thác đá và sản xuất gạch chịu lửa cao nhất với 6,8%; Lê Thị Hằng và cộng sự (2002) ghi nhận tỷ lệ mắc 7,8%; Nguyễn Duy Bảo (2013) xác định nồng độ bụi tại Công ty Gang thép Thái Nguyên vượt giới hạn cho phép từ 5 đến 30 lần, với hàm lượng silic tự do là 22,4% và tỷ lệ bụi hô hấp là 49,3%.
Về giải pháp can thiệp, tác giả điểm lại các nghiên cứu kiểm soát kỹ thuật công nghệ như thông gió cục bộ (LEV) và làm ướt của Flynn và Susi (2003), Akbar-Khanzadeh và cộng sự (2010), John D. Meeker và cộng sự (2009) giúp giảm 91% đến 93% phơi nhiễm silic, nghiên cứu máy khoan của Alan S. Echt và cộng sự (2016), và nghiên cứu khẩu trang lọc bụi CT-2000 của Nguyễn Duy Bảo (2003) đạt hiệu suất lọc bụi hô hấp 85-87% ở lưu lượng 30 lít/phút. Về can thiệp truyền thông thay đổi hành vi, các nghiên cứu quốc tế của Tamilselvi và Esaivani (2020), Wen Chen (2019) sử dụng ứng dụng mHealth, Luong Thanh Bao Yen (2016), Oystein Robertson tại Na Uy, Mahmoud Shamsi (2016), Justin Weidman (2016) đã chứng minh hiệu quả nâng cao kiến thức và tuân thủ bảo hộ cá nhân. Tại Việt Nam, các nghiên cứu của Phan Thị Mai Hương (2020), Lê Thị Thanh Xuân (2018-2020), Lê Thị Hương, Phạm Thị Quân và Nguyễn Việt đã chỉ ra thực trạng kiến thức và thực hành phòng bệnh của công nhân còn nhiều thiếu hụt.
Khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết là: xây dựng và đánh giá giải pháp can thiệp giáo dục truyền thông phòng chống BPSi thông qua ứng dụng phần mềm cài đặt trên điện thoại thông minh (mHealth), kết hợp với lượng giá dịch tễ học lâm sàng, X-quang theo chuẩn quốc tế ILO và thăm dò chức năng hô hấp trên nhóm công nhân luyện kim tại Thái Nguyên.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các khung lý thuyết tâm lý học hành vi và truyền thông sức khỏe làm nền tảng cho việc thiết kế can thiệp, bao gồm:
- Mô hình niềm tin sức khỏe (Health Belief Model - HBM của Becker, 1974): giải thích hành vi sức khỏe dựa trên 3 nhóm yếu tố chính: nhận thức về mối đe dọa của bệnh (tính trầm trọng và tính cảm nhiễm), nhận thức về lợi ích và rào cản khi thực hiện hành vi phòng ngừa, cùng nhận thức về sự tự hiệu quả.
- Lý thuyết hành vi có kế hoạch (The Theory of Planned Behaviour - TPB): xác định chủ ý hành vi chịu tác động bởi thái độ đối với hành vi, chuẩn mực chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi.
- Lý thuyết nhận thức xã hội (Social Cognitive Theory - SCT): xem xét mối quan hệ tương tác giữa các yếu tố cá nhân, môi trường và hành vi thông qua sự tự tin vào năng lực bản thân, thiết lập mục tiêu và kỳ vọng kết quả.
- Mô hình chiến lược truyền thông: phân tích theo cấu trúc định hướng truyền thông gồm động cơ (Why), đối tượng đích (Who), nội dung thông điệp (What) và phương thức triển khai (How).
Căn cứ pháp lý và tiêu chuẩn chuyên môn chẩn đoán:
- Tiêu chuẩn tiếp xúc bụi: QCVN 02:2019/BYT ban hành kèm Thông tư 02/2019/TT-BYT quy định giá trị giới hạn tiếp xúc tối đa cho phép của bụi silic tại nơi làm việc trong ca làm việc: nồng độ silic tự do trong bụi toàn phần là 0,3 mg/m3 và trong bụi hô hấp là 0,1 mg/m3.
- Tiêu chuẩn chẩn đoán: Thông tư 15/2016/TT-BYT quy định chẩn đoán BPSi dựa trên tiền sử tiếp xúc bụi silic (tiếp xúc tối thiểu 3 tháng đối với thể cấp tính, 5 năm đối với thể mạn tính), triệu chứng lâm sàng hô hấp, hình ảnh tổn thương trên phim X-quang phổi thẳng theo bảng phân loại quốc tế ILO (các nốt mờ nhỏ p, q, r, s, t, u; đám mờ lớn A, B, C; phân nhóm mật độ 0 đến 3), và đánh giá rối loạn thông khí phổi (hạn chế, tắc nghẽn, hỗn hợp) dựa trên các chỉ số FEV1, FVC, VC, FEV1/FVC (Gaensler), FEV1/VC (Tiffeneau) theo tiêu chuẩn của ATS/ERS và GOLD 2014.
Phương pháp nghiên cứu thực tế:
- Phương pháp định lượng: Kết hợp thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang dịch tễ học trên người lao động tại 2 cơ sở (Nhà máy luyện thép n=309 và Nhà máy luyện gang) với thiết kế nghiên cứu can thiệp cộng đồng có đối chứng, đánh giá trước và sau can thiệp. Nhóm can thiệp (Nhà máy luyện thép) được cài đặt và sử dụng ứng dụng truyền thông giáo dục trên điện thoại thông minh mang tên "VIHEMA Survey"; nhóm đối chứng (Nhà máy luyện gang) áp dụng các biện pháp tuyên truyền thông thường.
- Phương pháp định tính: Thực hiện phỏng vấn sâu lãnh đạo doanh nghiệp, cán bộ an toàn vệ sinh lao động, nhân viên y tế cơ quan và người lao động để tìm hiểu các rào cản, thuận lợi và nhu cầu thông tin phòng chống BPSi.
- Công cụ và nguồn dữ liệu: Hồ sơ khám sức khỏe nghề nghiệp, phim X-quang phổi kỹ thuật số đọc độc lập theo hướng dẫn ILO 2000, máy đo chức năng hô hấp kế, bộ câu hỏi chuẩn hóa đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành (KAP), và cơ sở dữ liệu ghi nhận tự động từ ứng dụng VIHEMA Survey.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về bụi silic, cơ chế bệnh sinh, tiêu chuẩn chẩn đoán, dịch tễ học và các mô hình dự phòng BPSi. Về mặt hóa lý, silic tự do (SiO2) tồn tại ở dạng tinh thể (chiếm 90%, gồm alpha-quartz, cristobalite, tridymite) có cấu trúc bề mặt hoạt tính gắn nhóm OH, phản ứng với phospholipid màng tế bào đại thực bào phế nang gây hoại tử, phóng thích enzym và hình thành tổ chức xơ.
Văn bản chuẩn hóa các mức giới hạn nồng độ bụi tiếp xúc theo quy định hiện hành của Bộ Y tế:
| Tên chất |
Giới hạn tiếp xúc ca làm việc (mg/m3) |
| Nồng độ silic tự do trong bụi toàn phần |
0,3 |
| Nồng độ silic tự do trong bụi hô hấp |
0,1 |
Tác giả tổng hợp 4 cấp độ dự phòng mắc bệnh trong y tế công cộng:
| Cấp độ |
Giai đoạn bệnh |
Mục đích |
Hành động |
Đối tượng đích |
| Cấp 0 |
Các điều kiện kinh tế, xã hội, môi trường |
Giảm thiểu các đe dọa tới sức khỏe |
Các đo lường hạn chế tính cấp bách của các điều kiện môi trường, kinh tế, xã hội |
Toàn bộ quần thể hoặc các nhóm chọn lọc |
| Cấp I |
Giai đoạn chưa có bệnh (yếu tố căn nguyên) |
Giảm số mới mắc của bệnh |
Bảo vệ sức khỏe bằng nỗ lực cá nhân, cộng đồng, loại bỏ yếu tố nguy cơ |
Toàn bộ quần thể, nhóm nguy cơ cao |
| Cấp II |
Giai đoạn sớm của bệnh |
Giảm tỷ lệ hiện mắc |
Chẩn đoán sớm, điều trị sớm thông qua sàng tuyển |
Các cá thể mới có bệnh |
| Cấp III |
Giai đoạn muộn của bệnh |
Giảm số lượng và tác động biến chứng |
Điều trị, phục hồi chức năng, giảm nhẹ tác động lâu dài |
Bệnh nhân mắc bệnh |
Chương này cũng phân tích chi tiết tiêu chuẩn phân loại phim X-quang của ILO (2000) với các dạng nốt mờ nhỏ tròn (p <1,5 mm; q từ 1,5 đến 3,0 mm; r từ 3,0 đến 10,0 mm), nốt không tròn (s, t, u), đám mờ lớn (A từ 10 đến 50 mm; B lớn hơn 50 mm nhưng không vượt quá diện tích vùng trên phổi phải; C vượt quá diện tích vùng trên phổi phải), cùng các thông số đánh giá chức năng thông khí phổi theo khuyến cáo ATS/ERS và GOLD 2014.
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 trình bày chi tiết thiết kế nghiên cứu kết hợp định lượng và định tính. Nghiên cứu định lượng dịch tễ học được thực hiện trên người lao động tại Nhà máy luyện thép (n=309) và Nhà máy luyện gang thuộc Công ty Cổ phần Gang thép Thái Nguyên. Quy trình can thiệp thực địa được xây dựng dựa trên ứng dụng phần mềm "VIHEMA Survey" cài đặt trên điện thoại thông minh của người lao động nhóm can thiệp.
Nội dung can thiệp bao gồm: cung cấp các bài giảng ngắn, video, hình ảnh mô phỏng về tác hại của bụi silic, dấu hiệu nhận biết BPSi, thông điệp nhắc nhở tự kiểm tra triệu chứng, hướng dẫn kỹ thuật đeo khẩu trang đúng cách và vệ sinh lao động cá nhân. Nhóm đối chứng tiếp cận các tờ rơi và bảng tin thông thường của nhà máy.
Các biến số nghiên cứu chính bao gồm: tuổi đời, tuổi nghề, vị trí công việc, tiền sử hút thuốc lá/thuốc lào; tỷ lệ xuất hiện các triệu chứng cơ năng hô hấp (khó thở, ho, đau tức ngực, khạc đờm); hình ảnh tổn thương phổi trên phim X-quang số hóa đọc theo bảng phân loại ILO 2000; các chỉ số thể tích và lưu lượng hô hấp (FEV1, FVC, tỷ số Gaensler, Tiffeneau); điểm số kiến thức, thái độ và tần suất thực hành sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân được đo lường trước và sau can thiệp. Tác giả áp dụng các thuật toán thống kê y học để so sánh tỷ lệ, tính toán chỉ số hiệu quả can thiệp (CSHQ, HQCT) và kiểm định mức ý nghĩa thống kê với ngưỡng p < 0,05.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 3 công bố các dữ liệu thực nghiệm về dịch tễ học và kết quả can thiệp tại hai nhà máy luyện kim:
- Đặc điểm đối tượng và môi trường: Người lao động chủ yếu là nam giới, làm việc trong điều kiện vi khí hậu khắc nghiệt và nồng độ bụi hô hấp vượt quy chuẩn. Tỷ lệ người lao động xuất hiện triệu chứng cơ năng hô hấp cao, nổi bật là ho khan, khạc đờm mạn tính và khó thở khi gắng sức.
- Đặc điểm tổn thương hình ảnh và chức năng hô hấp: Kết quả đọc phim X-quang theo chuẩn ILO ghi nhận tỷ lệ mắc BPSi ở nhóm người lao động có tiếp xúc; hình thái tổn thương chủ yếu là các nốt mờ nhỏ tròn đều loại p và q, mật độ đám mờ tập trung ở phân nhóm 1/0 và 1/1. Đo chức năng hô hấp ghi nhận tỷ lệ đáng kể người lao động bị suy giảm thông khí, trong đó hội chứng rối loạn thông khí hạn chế (%FVC < 80% trị số lý thuyết) và rối loạn thông khí tắc nghẽn (%FEV1/FVC < 70%) chiếm tỷ lệ chủ yếu.
- Phân tích mối liên quan: Luận án chỉ ra mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tình trạng mắc BPSi với thâm niên tuổi nghề (tuổi nghề trên 10 năm và trên 20 năm có nguy cơ mắc bệnh cao hơn rõ rệt), vị trí làm việc tại các phân xưởng phát sinh nhiều bụi, tiền sử hút thuốc lá và thói quen không sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân thường xuyên.
- Hiệu quả của giải pháp can thiệp qua phần mềm điện thoại thông minh tại Nhà máy luyện thép:
- Trước can thiệp: Điểm số kiến thức của người lao động về nguyên nhân gây bệnh, các yếu tố nguy cơ và dấu hiệu gợi ý mắc BPSi còn thấp; tỷ lệ nhận thức sai lệch (như cho rằng BPSi có thể chữa khỏi hoàn toàn) vẫn tồn tại; tỷ lệ sử dụng khẩu trang đúng quy chuẩn kỹ thuật đạt tỷ lệ chưa cao.
- Sau can thiệp: Nhóm can thiệp có sự gia tăng có ý nghĩa thống kê về điểm kiến thức chung, kiến thức về dấu hiệu gợi ý mắc bệnh, hậu quả bệnh và các biện pháp dự phòng (p < 0,001). Thái độ của người lao động đối với việc chủ động kiểm tra sức khỏe nghề nghiệp và ý thức tự bảo vệ chuyển biến tích cực. Tỷ lệ người lao động duy trì thực hành đeo khẩu trang chống bụi đúng cách tại nơi làm việc tăng lên rõ rệt so với thời điểm trước can thiệp và cao hơn hẳn so với nhóm đối chứng. Người lao động đánh giá cao tính tiện lợi, dễ hiểu và tính ứng dụng của phần mềm VIHEMA Survey.
Chương 4: Bàn luận
Chương 4 tập trung phân tích, đối chiếu các kết quả thu được với các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước:
- Tác giả bàn luận về tỷ lệ hiện mắc BPSi và thực trạng suy giảm chức năng thông khí phổi tại Thái Nguyên, khẳng định sự tương đồng với các nghiên cứu của Nguyễn Văn Thuyên, Tạ Thị Kim Nhung, Nguyễn Minh Đức tại các ngành nghề có nguy cơ cao ở Việt Nam, cũng như các nghiên cứu tại Trung Quốc, Ấn Độ và Ba Lan. Luận án nhấn mạnh rằng môi trường luyện gang thép có đặc thù phát sinh bụi silic kết hợp với nhiệt độ cao và khí độc, làm gia tăng gánh nặng bệnh lý đường hô hấp.
- Về tổn thương X-quang và hô hấp kế: Tác giả luận giải việc đa số tổn thương phổi dừng ở thể nhẹ (mật độ 1/0, 1/1, nốt mờ p, q) cho thấy tầm quan trọng của việc phát hiện sớm ở giai đoạn cấp II của dự phòng để ngăn chặn tiến triển thành các đám mờ lớn dạng khối xơ hóa tiến triển (A, B, C).
- Về giải pháp can thiệp: Phân tích so sánh hiệu quả của ứng dụng VIHEMA Survey với các mô hình can thiệp mHealth quốc tế (như nghiên cứu của Wen Chen năm 2019 hay Mahmoud Shamsi năm 2016). Tác giả làm rõ rằng việc ứng dụng công nghệ số trên điện thoại thông minh đã khắc phục được nhược điểm của các phương pháp truyền thông thụ động truyền thống (tờ rơi, áp phích), giúp thông tin đến trực tiếp từng cá nhân người lao động, tạo sự chủ động và nâng cao nhận thức kiểm soát hành vi theo đúng mô hình lý thuyết TPB và HBM.
- Tính bền vững và khả năng nhân rộng: Luận án phân tích chi phí thấp, tính linh hoạt và khả năng tích hợp ứng dụng vào công tác quản lý an toàn vệ sinh lao động tại các doanh nghiệp công nghiệp nặng khác. Tác giả cũng chỉ ra các rào cản thực tế như sự khác biệt về độ tuổi tiếp cận công nghệ và các bất tiện vật lý khi mang khẩu trang trong môi trường nóng bức.
Kết quả và những đóng góp mới
Những đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn của luận án được thể hiện qua các nội dung sau:
- Về mặt lý luận: Luận án cung cấp các bằng chứng khoa học thực địa cập nhật về đặc điểm dịch tễ học bệnh BPSi, biến đổi tổn thương X-quang theo chuẩn ILO 2000 và suy giảm chức năng thông khí phổi ở công nhân ngành luyện kim đen (gang thép) tại Việt Nam. Công trình đã vận dụng và kiểm chứng thành công các mô hình lý thuyết thay đổi hành vi sức khỏe (HBM, TPB, SCT) vào việc thiết kế can thiệp y tế công cộng dựa trên nền tảng công nghệ số di động (mHealth) cho nhóm đối tượng công nhân công nghiệp nặng.
- Về mặt thực tiễn:
- Xác định rõ tỷ lệ hiện mắc BPSi và mối liên quan chặt chẽ giữa bệnh với tuổi nghề, nồng độ bụi môi trường, vị trí phân xưởng và hành vi sử dụng bảo hộ lao động tại Công ty Cổ phần Gang thép Thái Nguyên.
- Xây dựng, thử nghiệm và chứng minh hiệu quả thực tế của ứng dụng truyền thông giáo dục trên điện thoại thông minh (VIHEMA Survey), giúp nâng cao rõ rệt kiến thức, chuyển biến thái độ tích cực và tăng cường thực hành sử dụng khẩu trang chống bụi đúng cách của người lao động.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất từ luận án:
- Đối với doanh nghiệp: Cần duy trì kiểm soát kỹ thuật môi trường lao động, cải thiện hệ thống thông gió hút bụi, bảo đảm cung cấp khẩu trang đạt tiêu chuẩn lọc bụi hô hấp; tích hợp ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác đào tạo an toàn vệ sinh lao động định kỳ cho công nhân.
- Đối với ngành y tế: Tăng cường khám sàng lọc phát sinh bệnh nghề nghiệp định kỳ, kết hợp chụp X-quang số hóa đọc chuẩn ILO và đo chức năng thông khí phổi để phát hiện sớm các trường hợp BPSi ở giai đoạn tiềm tàng; mở rộng mô hình truyền thông mHealth sang các ngành sản xuất có nguy cơ cao khác như khai thác mỏ và sản xuất vật liệu xây dựng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Thiết kế can thiệp của luận án chủ yếu tập trung đánh giá sự thay đổi về các chỉ số trung gian là kiến thức, thái độ và thực hành (KAP) trong khoảng thời gian theo dõi của đề tài; nghiên cứu chưa thể đo lường trực tiếp tác động dài hạn của can thiệp lên việc làm giảm tỷ lệ mới mắc BPSi hoặc sự tiến triển của các nốt xơ hóa trên phim X-quang phổi do bệnh bụi phổi silic đòi hỏi thời gian ủ bệnh và tiến triển kéo dài nhiều năm.
- Địa bàn nghiên cứu được triển khai tập trung tại hai nhà máy thuộc một tổng công ty luyện kim tại Thái Nguyên, do đó việc ngoại suy kết quả cần cân nhắc các yếu tố đặc thù về công nghệ sản xuất và điều kiện quản lý y tế cơ sở của từng doanh nghiệp khác nhau.
- Vẫn còn một tỷ lệ nhỏ người lao động lớn tuổi gặp khó khăn ban đầu trong thao tác và tương tác thường xuyên trên ứng dụng điện thoại thông minh.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Triển khai các nghiên cứu thuần tập theo dõi dọc dài hạn (từ 5 đến 10 năm) để lượng giá chính xác tác động của các can thiệp thay đổi hành vi kết hợp kiểm soát môi trường lên tỷ lệ phát sinh mới bệnh BPSi và tốc độ suy giảm các chỉ số FEV1, FVC theo thời gian.
- Nâng cấp, chuẩn hóa ứng dụng VIHEMA Survey thành nền tảng quản lý sức khỏe nghề nghiệp số, mở rộng thử nghiệm trên các nhóm ngành khai thác quặng, sản xuất đá mỹ nghệ, vật liệu xây dựng và gốm sứ trên quy mô toàn quốc.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên môn hữu ích cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên sau đại học và giảng viên thuộc các chuyên ngành Y tế công cộng, Y học dự phòng, Sức khỏe nghề nghiệp và Bệnh nghề nghiệp: Luận án cung cấp phương pháp luận chặt chẽ trong việc kết hợp nghiên cứu dịch tễ học bệnh nghề nghiệp với can thiệp cộng đồng có đối chứng; quy trình lượng giá chức năng hô hấp và phân loại phim X-quang phổi chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế ILO 2000.
- Bác sĩ chuyên khoa y học lao động và cán bộ y tế cơ sở tại các khu công nghiệp: Cung cấp khung hướng dẫn thực hành chẩn đoán sớm BPSi, các tiêu chí đánh giá rối loạn thông khí phổi theo khuyến cáo ATS/ERS và GOLD 2014, cùng các biện pháp dự phòng cấp độ I và II.
- Các nhà quản lý, hoạch định chính sách tại Cục Quản lý môi trường y tế (Bộ Y tế), Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và lãnh đạo các tập đoàn công nghiệp: Có cơ sở thực tiễn để ban hành các chính sách kiểm soát môi trường lao động, tiêu chuẩn trang cấp phương tiện bảo vệ cá nhân, và ứng dụng chuyển đổi số vào hoạt động truyền thông nâng cao sức khỏe cho người lao động.
Câu hỏi thường gặp
1. Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh bụi phổi silic nghề nghiệp được quy định như thế nào trong văn bản y tế hiện hành tại Việt Nam?
Theo Thông tư 15/2016/TT-BYT được luận án trích dẫn, chẩn đoán bệnh BPSi dựa trên 3 tiêu chuẩn bắt buộc: (1) Tiền sử tiếp xúc bụi chứa SiO2 tự do với thời gian tiếp xúc tối thiểu là 3 tháng đối với thể cấp tính và 5 năm đối với thể mạn tính; (2) Lâm sàng có các triệu chứng khó thở khi gắng sức, đau tức ngực, khạc đờm; (3) Cận lâm sàng có hình ảnh tổn thương xơ hóa điển hình trên phim chụp X-quang phổi thẳng theo bảng phân loại quốc tế ILO (xuất hiện nốt mờ nhỏ tròn p, q, r hoặc nốt không tròn s, t, u; đám mờ lớn A, B, C; có thể có hình ảnh vôi hóa hạch dạng vỏ trứng) và có thể kèm theo rối loạn thông khí phổi khi đo chức năng hô hấp.
2. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia quy định giới hạn tiếp xúc tối đa cho phép đối với bụi silic tại nơi làm việc là bao nhiêu?
Theo Thông tư 02/2019/TT-BYT ban hành kèm QCVN 02:2019/BYT, giới hạn tiếp xúc tối đa cho phép trong ca làm việc đối với nồng độ silic tự do trong bụi toàn phần là 0,3 mg/m3, và nồng độ silic tự do trong bụi hô hấp là 0,1 mg/m3.
3. Tình trạng môi trường lao động tại hai cơ sở nghiên cứu ở Thái Nguyên trước can thiệp có điểm gì đáng chú ý?
Tại Công ty Cổ phần Gang thép Thái Nguyên, kết quả quan trắc cho thấy nồng độ bụi cao hơn giới hạn cho phép từ 5 đến 30 lần; tỷ lệ bụi silic tự do chiếm 22,4% và tỷ lệ bụi hô hấp chiếm 49,3%. Riêng tại Nhà máy luyện thép Lưu Xá giai đoạn 2018-2020, tỷ lệ mẫu bụi hô hấp vượt tiêu chuẩn cho phép là 61,5% (8/13 mẫu) và tỷ lệ mẫu nhiệt độ vượt chuẩn là 40,0% (8/20 mẫu).
4. Ứng dụng điện thoại thông minh nào được sử dụng làm công cụ can thiệp và mang lại hiệu quả gì cho người lao động?
Tác giả đã triển khai ứng dụng phần mềm mang tên "VIHEMA Survey" trên điện thoại thông minh của người lao động tại Nhà máy luyện thép. Sau can thiệp, người lao động ở nhóm can thiệp có sự gia tăng vượt trội và có ý nghĩa thống kê (p < 0,001) về điểm kiến thức bệnh BPSi, hiểu rõ tính chất không hồi phục của bệnh, chuyển đổi thái độ tích cực đối với việc khám sức khỏe nghề nghiệp và tăng tỷ lệ thực hành đeo khẩu trang chống bụi đúng cách so với trước can thiệp và so với nhóm đối chứng.
5. Những mô hình lý thuyết hành vi nào đã được tác giả vận dụng để xây dựng giải pháp can thiệp?
Luận án ứng dụng 3 mô hình lý thuyết hành vi chính: Mô hình niềm tin sức khỏe (Health Belief Model - HBM) của Becker (1974), Lý thuyết hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behaviour - TPB), Lý thuyết nhận thức xã hội (Social Cognitive Theory - SCT), cùng Mô hình chiến lược truyền thông (tiếp cận theo 4 câu hỏi: Why, Who, What, How) để thiết kế các thông điệp và hình thức truyền thông tương tác qua điện thoại di động.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thu Huyền đã phân tích một cách có hệ thống đặc điểm dịch tễ học bệnh bụi phổi silic, tổn thương hình ảnh X-quang theo chuẩn ILO và suy giảm chức năng thông khí phổi ở người lao động ngành luyện gang thép tại Thái Nguyên. Công trình đã làm rõ mối liên quan chặt chẽ giữa bệnh BPSi với thâm niên nghề nghiệp, vị trí làm việc và các yếu tố môi trường có nồng độ bụi silic vượt chuẩn. Đồng thời, nghiên cứu đã xây dựng và chứng minh tính hiệu quả thực tế của giải pháp can thiệp giáo dục truyền thông qua ứng dụng điện thoại thông minh VIHEMA Survey trong việc nâng cao rõ rệt kiến thức, thái độ và thực hành phòng bệnh cho công nhân. Đây là tài liệu khoa học chuyên khảo có giá trị đóng góp thiết thực cho công tác y tế dự phòng và bảo vệ sức khỏe người lao động trong các ngành công nghiệp nặng tại Việt Nam.