CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ ÁP DỤNG KẾ HOẠCH CẤP NƯỚC AN TOÀN TẠI VIỆT NAM VÀ KHU VỰC CẤP NƯỚC NÔNG THÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 1. Tổng quan về quản lý hệ thống cấp nước trên thế giới và tại Việt Nam. Các khái niệm cơ bản. Đánh giá rủi ro trong kế hoạch cấp nước an toàn là việc đánh giá mức độ nguy hiểm của các nguy cơ, từ đó đưa ra biện pháp xử lý cần thiết đảm bảo cấp nước an toàn.
Việc đánh giá rủi ro các mối nguy hại nhằm xác định mức độ nguy hiểm của các nguy cơ tác động lên hệ thống cấp nước. Từ đó xác định thứ tự ưu tiên của các mối nguy hại theo mức độ rủi ro và xây dựng, lập kế hoạch thực hiện, đánh giá kết quả thực hiện các biện pháp xử lý các mối nguy hại theo thứ tự ưu tiên, nhằm giảm thiểu rủi ro cho hệ thống cấp nước Các mối nguy hại được xác định dựa vào tài liệu ghi chép thực tế các sự cố của hệ thống cấp nước do đơn vị quản lý vận hành ghi lại và dự đoán các mối nguy hại có thể xảy ra trên cơ sở khoa học biện chứng. Trong đề tài này, các mối nguy hại được đưa ra dựa trên tổng hợp tất cả các sự cố liên quan đến trạm cấp nước và kinh nghiệm vận hành tại các trạm cấp nước nông thôn trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh trong quá khứ và kết quả mô phỏng chất lượng nước bằng mô hình ở những kịch bản ô nhiễm khác nhau. Các mối nguy hại dự kiến được phân nhóm như sau: P (physical) Vật lý; M (microbiology) Vi sinh; C (chemical) Hóa học; O (others) khác.
Kế hoạch Cấp nước An toàn (KHCNAT) là một chương trình do Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khởi xướng với mục tiêu nhằm quản lý rủi ro, ngăn ngừa các nguy cơ từ nước sạch đảm bảo mục tiêu sức khỏe cho cộng đồng. Tại Việt Nam, từ năm 2007, WHO kết hợp với Bộ Xây dựng, Bộ Y tế, Hội Cấp Thoát nước Việt Nam đề xuất và hỗ trợ tổ chức, thực thi KHCNAT cho các công ty cấp nước. Đến năm 2008, Bộ Xây dựng đã ban hành Quyết định số 16/2008/QĐ-BXD về Quy chế đảm bảo an toàn cấp nước [7]. Ngày 21 tháng 11 năm 2012, Bộ Xây dựng ban hành Thông tư số 08/2012/TT-BXD hướng dẫn thực hiện đảm bảo cấp nước an toàn, theo Điều 2 – 4 Thông tư 08/2012/TT- BXD [6], khái niệm cấp nước an toàn được hiểu như sau: Cấp nước an toàn là việc cung cấp nước ổn định, duy trì đủ áp lực, liên tục, cấp nước an toàn là những hoạt động nhằm giảm thiểu, loại bỏ, phòng ngừa các nguy cơ, rủi ro gây mất an toàn cấp nước từ nguồn nước qua các công đoạn thu nước, xử lý, dự trữ và phân phối đến khách hàng sử dụng nước.
Mối nguy hại: Là những nguy cơ trực tiếp hoặc gián tiếp, hiện hữu hoặc tiềm ẩn, đe dọa đến an toàn của hệ thống cấp nước và hoạt động cấp nước. Các mối nguy hại có thể xuất hiện tại bất kỳ công đoạn nào trong quá trình khai thác, sản xuất và cung cấp nước từ nguồn nước đến công trình xử lý và hệ thống truyền tải - phân phối nước. Đánh giá rủi ro: Là việc đánh giá mức độ nguy hiểm của các nguy cơ dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá theo mức độ tác động và tần suất xảy ra rủi ro, từ đó đưa ra biện pháp xử lý cần thiết đảm bảo cấp nước an toàn. Sự cố: Là những hư hỏng hoặc hoạt động không bình thường của các thiết bị, công trình, thành phần thuộc hệ thống cấp nước, xảy ra ngoài ý muốn chủ quan của con người, có thể dẫn đến làm ngừng một phần hoặc toàn bộ hoạt động của hệ thống cấp nước.
Biện pháp kiểm soát (BPKS): Là cách thức, phương thức tiến hành nhằm phòng ngừa, ngăn chặn mối nguy, các sự cố và xử lý giải quyết chúng trong quá trình sản xuất và cung cấp nước. Kế hoạch cải thiện nâng cấp: Là kế hoạch để thực hiện các hành động để cải tiến, nâng cấp (đối với quy trình công nghệ, công trình, máy móc thiết bị, con người, phương thức quản lý…) nhằm phát huy những ưu điểm và hạn chế, khắc phục, sửa đổi những khuyết điểm; đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng của nhân viên quản lý vận hành. Kiểm chứng: Là việc cung cấp bằng chứng về tất cả các hoạt động của hệ thống cấp nước, chứng thực cho hiệu quả thực hiện KHCNAT. 5 Thành lập Ban Nhóm cấp nước an toàn Phản hồi Đánh giá hệ thống Rà soát định Kế hoạch - Mô tả hệ thống Nâng cấp kỳ sự cố, và định kỳ - Nhận dạng mối nguy và đánh đầu tư xem xét rà soát giá rủi ro KHCNAT KHCNAT - Xác định và kiểm chứng các biện pháp kiểm soát, đánh giá lại và xếp ưu tiên các rủi ro - Phát triển, áp dụng và duy trì Kế hoạch cải thiện/ nâng cấp Giám sát vận hành - Giám sát Theo dõi quá trình quá trình kiểm soát - Kiểm tra, xác nhận (thẩm định) hiệu quả thực hiện KHCNAT Quản lý và truyền thông Giải quyết Soạn thảo quy trình quản lý khẩn cấp Xây dựng các chương trình hỗ trợ Hình 1.1: Sơ đồ hệ thống của kế hoạch cấp nước an toàn [22] Quy trình vận hành trong điều kiện bình thường: Là các bước vận hành hệ thống cấp nước theo trình tự trong điều kiện tất cả các thiết bị, tất cả các khâu đều hoạt động bình thường, đúng chức năng, nhiệm vụ.
Đây là công việc thực hiện thường xuyên, có tính lặp đi lặp lại trong thời gian dài. Quy trình xử lý sự cố: Là quy trình xử lý áp dụng khi xảy ra một sự cố nào đó trong hệ thống cấp nước (từ nguồn nước, hệ thống xử lý nước, mạng lưới cấp nước cho đến đồng hồ khách hàng), trong đó chỉ rõ cách thức xác định sự cố, giải quyết, ứng phó trong trường hợp xảy ra sự cố; cách khắc phục để đưa hệ thống trở lại vận hành bình thường. Quy trình quản lý: Là quy trình cần thực hiện để đảm bảo hoạt động của tất cả các khâu trong dây chuyền được vận hành đồng bộ, thông suốt, khoa học, đảm bảo cân đối mọi nguồn lực cho sản xuất kinh doanh ổn định và phát triển. Chương trình hỗ trợ: Là các chương trình nhằm nâng cao năng lực quản lý, 6 vận hành hệ thống cấp nước, nâng cao nhận thức về KHCNAT, nhận thức của cộng đồng về nước sạch và môi trường.
Rà soát kế hoạch: Là quá trình theo dõi, kiểm tra việc thực hiện KHCNAT trong toàn bộ các bước nhằm tìm ra những điểm thiếu sót hoặc sai lầm để tiến hành điều chỉnh, bổ sung đảm bảo cho KHCNAT được thực hiện đúng theo mục tiêu ban đầu. Cập nhật định kỳ Kế hoạch Cấp nước an toàn: Là hành động điều chỉnh, bổ sung kế hoạch và phương pháp triển khai thực hiện KHCNAT nhằm thay đổi phù hợp với điều kiện thực tế của hệ thống cấp nước đồng thời khắc phục những khuyết điểm, phát huy những ưu điểm đã được xác nhận trong quá trình rà soát, đánh giá. Quản lý và áp dụng kế hoạch cấp nước an toàn trên Thế giới. Quản lý chất lượng nước trên thế giới liên quan đến các đạo luật, pháp quy và các chương trình ứng dụng, tiện ích.
Ở Mỹ đạo luật Safe Drinking Water Act Amendments, 1996 (luật sửa đổi về nước ăn uống an toàn) có những điều khoản về bảo vệ nguồn nước và ủng hộ các nhà quản lý chất lượng nguồn nước. Luật của các bang, địa phương có thể có những điều khoản riêng để bảo vệ nguồn nước trước những tạp chất đặc thù. Đạo luật “The Clean Water Act” (Nước sạch) điều chỉnh hành vi xả cấp vào các nguồn nước. Từ năm 2004 đến nay, với sự hỗ trợ của Tổ chức y tế thế giới (WHO) rất nhiều nước trên thế giới đã và đang triển khai thành công các dự án về kế hoạch cấp nước an toàn (KHCNAT), bao gồm một số nước sau: Tháng 12 năm 2005, Trung Quốc đã triển khai KHCNAT tại năm địa điểm: Beijing, Tianijin, Yinchuan, Shenzhen và Shekou.
Cũng vào năm 2005 tại Bồ Đào Nha, KHCNAT được ứng dụng đối với hệ thống cấp nước đô thị cho công ty cấp nước Aguas Do Cavado. Năm 2005, dự án “Đánh giá tác động nước hợp vệ sinh đối với sức khỏe đối với các nước thuộc khu vự Asian” do Tổ chức hỗ trợ phát triển Australia và WHO triển khai với sự tham gia của các nước như Việt Nam, Lào, Trung Quốc, Campuchia… Nhật Bản ứng dụng KHCNAT cho hệ thống cấp nước thành phố Osaka 7 giai đoạn 2005-2007. Bên cạnh việc triển khai và ứng dụng KHCNAT một vài nơi còn tổ chức các cuộc họp cũng như khóa tập huấn về KHCNAT [22]. Quản lý và áp dụng kế hoạch cấp nước an toàn ở Việt Nam.
Khu vực đô thị. Về cơ cấu tổ chức quản lý cấp nước đô thị: Ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có Sở Xây dựng thực hiện quản lý nhà nước về cấp nước tại địa phương. Nhưng nhìn chung các tổ chức này chưa phát huy hết được yêu cầu nhiệm vụ, trong cơ cấu tổ chức của Sở không có bộ phận chuyên quản, về tổ chức phải có một bộ phận chuyên môn để thực thi nhiệm vụ quản lý nhà nước của Sở đưa ra, có như vậy mới phát huy vai trò quản lý nhà nước về cấp nước thành hệ thống từ trung ương đến địa phương. Sở còn giúp UBND tỉnh quản lý nhà nước về khai thác và sử dụng, phối hợp với các cơ quan có liên quan nghiên cứu giá cả và giúp tỉnh quản lý các doanh nghiệp cấp nước.
Hiện nay, 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đều thành lập công ty cấp nước. Trình độ quản lý của các công ty cấp nước đa phần chưa đáp ứng được yêu cầu cao trong tình hình đổi mới và phát triển không ngừng của ngành cấp nước. Các công ty cấp nước thiếu đội ngũ cán bộ, công nhân được đào tạo đúng chuyên môn, trình độ quản lý và vận hành kĩ thuật. Việc chỉ đạo, nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ, quản lý và thông tin kinh tế kỹ thuật chuyên ngành cũng như việc chỉ đạo phối hợp đào tạo cán bộ, công nhân ngành nước còn chưa hoàn chỉnh.
Hệ thống dịch vụ cấp nước còn mang tính độc quyền. Sự phối hợp với chính quyền địa phương trong công tác quản lý cấp nước còn nhiều hạn chế. Sự tham gia của cộng đồng trong công tác đầu tư, quản lý và cung cấp dịch vụ chưa được huy động đầy đủ.