CHƯƠNG I. TỔNG QUAN ROBOT NGOÀI KHƠI 1. Tổng quan Ngày nay, các ngành công nghiệp ngoài khơi là một trong những ngành yêu cầu những công nghệ tân tiến nhất trên thế giới. Với điều kiện khắc nghiệt của môi trường ngoài khơi, là thách thức lớn đòi hỏi phải tìm ra những giải pháp điều khiển hệ thống hiệu quả, an toàn và ổn định.
Trong đó, Na Uy giữ vị trí hàng đầu trong ngành công nghiệp hàng hải toàn cầu, trang thiết bị và công nghệ tàu thuyền hàng hải bậc nhất thế giới. Từ những khó khăn của điều kiện thời tiết, môi trường có nhiều dao động, đặt ra yêu cầu phải tìm ra những giải pháp mới. Robot ngoài khơi được ví như là những diễn viên chính trong hoạt động vận chuyển và sắp xếp hàng hóa trên biển. Trong các hoạt động ngoài khơi có nhiều vấn đề như : chuyển động do dòng chảy và sóng, khó khăn trong việc xác định vị trí tải, dao động lắc lư của tàu… Không giống như robot hoạt động trên môi trường cố định.
1 Robot hoạt động ngoài khơi 1 Luan van 1. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước Tóm tắt các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước về điều khiển ổn định robot ngoài khơi : Điều khiển robot ngoài khơi kết hợp với camera 2D, 3D. Năm 2015, bài báo [2] “Robot Arm Manipulation Using Depth-Sensing Cameras and Inverse Kinematics”, của hai tác giả “Akhilesh Kumar Mishra Oscar Meruvia- Pastor”, trường đại học Newfoundland. Bài báo này được in trong tạp chí IEEE với mã hiệu Oceans14_IEEE_ID_7003029. Bài báo trình bày về việc ứng dụng camera cảm biến chiều sâu để xác định được vật thể 3D trong không gian, kết hợp với động học nghịch robot, để giải quyết các vấn đề về môi trường hoạt động cho robot ngoài khơi.
Kết quả đạt được trong nghiên cứu này rất chính xác về nhận dạng và điều khiển đối tượng trong điều kiên môi trường dao động. Điều khiển robot ngoài khơi theo thuật toán thích nghi : robot có khả năng tự học trong quá trình hoạt động (mạng thần kinh nhân tạo). Năm 2002, bài báo [16] “ Neural network based predictive control systems for underwater robotic vehicles ” được in trong tạp chí khoa học IEEE của tác giả “V. Thuật toán này áp dụng cho những bài toán phi tuyến tính. Bài báo này trình bày một phương pháp kiểm soát và nhận dạng của một URV nguyên mẫu (như một hệ thống phi tuyến tính), sử dụng các mạng thần kinh neural (NNS - using neural networks).
Mô hình NNS được phát triển và sau đó dựa vào thuật toán tiên đoán hướng, vị trí tương lai của robot dưới nước. Thuật toán tiên đoán gọi là “hybrid control strategies”. Kết quả mô phỏng của bài viết rất khả quan. Năm 2012, bài báo [11] “A NEURAL NETWORK BASED CONTROLLER FOR UNDER WATER ROBOTIC VEHICLES” công trình nghiên cứu của ba tác giả “Josiane Maria Macedo Fernandes, Marcelo Costa Tanaka, Raimundo Carlos Silv´erio Freire J´unior” ( thành viên của trường đại học Natal, RN, Ấn Độ ) được in trong tạp chí “ABCM Symposium Series in Mechatronics - Vol.
Bài báo này trình bày về điều khiển huấn luyện robot dưới nước dựa trên mạng thần kinh nhân tạo (NEURAL NETWORK). Mục tiêu của nghiên cứu này là phát triển hệ thống định vị và điều khiển động học từ xa cho các phương tiện, robot dưới nước. 2 Luan van Điều khiển robot hoạt động ngoài khơi theo phương pháp bù dao động (heave compensation ). Phương pháp sử dụng giải thuật đoán vị trí của vật trong tương lai.
Sử dụng hệ thống bù dao động AHC và PHC. Tháng 11 năm 2008, bài báo [5] “ A Heave Compensation Approach for Offshore Cranes “ của American Control Conference Westin Seattle Hotel, Seattle, Washington nghiên cứu về bù dao động cho cần cẩu ngoài khơi. Bài báo này trình bày về phương pháp để tìm ma trận chuyển động nghịch với khả năng hội tụ cao với số vòng lập ít hơn và đáp ứng nhanh hơn (phương pháp DLS và LMA). Kết hợp với hệ thống MRU (motion reference unit) : hệ thống điều khiển tải chuyển động với quỹ đạo tham chiếu để đự đoán chuyển động của tải & tàu. Tháng 8 năm 2014, bài báo [17] “ Heave compeftsatioft improves offshore lifting operations ” của hiệp hội khoa học ABS from OE (Offshore Engineer).
Bài báo trình bày về hệ thống bù dao động AHC và PHC. Thứ nhất là phương pháp bù chuyển động thụ động (PHC). Chẳng hạn như lồng giảm xóc Frederick của hệ thống bù chuyển động bằng một chương trình tối ưu hóa bậc hai tuần tự. Hatleskog và Dunnigan nghiên cứu hệ thống bù chuyển động sóng biển dùng xi lanh khí nén.
Thứ hai là phương pháp bù dao động chủ động (AHC) cho các tàu khoan bằng cách bổ sung thêm chuyển động theo chiều thẳng đứng của tải, từ đó có thể hãm sự dao động của tải. Điều khiển robot ngoài khơi bằng công nghệ cảm biến trong không gian 3D. Năm 2014, Bài báo [7] “3D vision and object recognition for off-shore robot guidance” của hiệp hội GEMINI Centre for Advanced Robotics nghiên cứu về nhận dạng vị trí đối tượng cho robot ngoài khơi. Bài báo này trình bày về xây dựng mô hình CAD nâng cao để nhận dạng đối tượng.
Từ đó, robot sẽ được trang bị với tầm nhìn 3D dựa trên ánh sáng có cấu trúc của đối tượng. Như vậy, việc điều khiển robot ngoài khơi hoàn toàn có thể kiểm soát được. Năm 2015, Bài báo [1] “Leap Motion Controller for Authentication via Hand Geometry and Gestures” tác giả “Alexander Chan, Tzipora Halevi, and Nasir Memon’’ Hunter College High School, New York, NY, USA. Bài báo này nói về điều khiển real time cho robot arm : kết hợp giữa động học nghịch robot và điều 3 Luan van khiển real time bằng cảm biến leap motion.
Robot này có thể gắp được mọi vật trong không gian. Tính cấp thiết, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Để robot ngoài khơi hoạt động an toàn, hiệu quả trong điều kiện khắc nghiệt ngoài khơi (dao động bởi sóng biển và tàu). Đề tài “điều khiển ổn định robot gắp sản phẩm trong môi trường có dao động (bến cảng)” sử dụng thuật toán điều khiển linh hoạt cho robot : kết hợp động học nghịch robot trong môi trường dao động và điều khiển real time robot sử dụng cảm biến leap motion để giải quyết bài toán gắp vật trong môi trường có dao động. Đề tài này rất cấp thiết cần được nghiên cứu và đưa vào thực tiễn trong điều khiển robot hoạt động ngoài khơi.
Mục đích nghiên cứu, khách thể và đối tượng nghiên cứu. Mục đích của đề tài : Tính toán , thiết kế và điều khiển mô hình robot ngoài khơi hoạt động an toàn, hiệu quả và hiệu suất cao sử dụng cảm biến leap motion để giải quyết bài toán gắp vật trong môi trường có dao động. Nhiệm vụ của đề tài : Phân tích và thực hiện điều khiển robot cổ điển. Phân tích, đánh giá và đọc dữ liệu cảm biến leap motion (hồi tiếp vị trí X, Y, Z) Đảm bảo đáp ứng truyền nhận dữ liệu real time cho robot.
Đối tượng nghiên cứu : Robot arm, cảm biến leap motion, cảm biến IMU, động cơ servo, kit arduino… 1. Giới hạn của đề tài Môi trường hoạt động của robot : trạng thái tĩnh. Vật cần gắp đặt trong môi trường dao động 3 chiều ( theo phương X, Y, Z ). Phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng chủ yếu là: Nghiên cứu phần mềm Solid Work. Thực hiện mô phỏng robot trên MATLAB. Cách thức thiết kế phần cứng cánh tay robot : động lực học, sức bền vật liệu, cơ cấu cơ khí để lựa chọn thông số thiết bị chính xác. Phân tích và thực hiện điều khiển robot trên mô hình thực.
Thực thi thuật toán điều khiển linh hoạt dùng cảm biến leap motion. Kế hoạch thực hiện. Lắp ráp cánh tay robot 6 bậc và thi công mô hình tạo dao Tháng 2 đến tháng 4 động theo 3 chiều X, Y, Z. Tháng 4 đến tháng 6 Điều khiển robot cổ điển trên mô phỏng và thực tế.
Thực thi thuật toán điều khiển linh hoạt dùng cảm biến leap Tháng 6 đến tháng 7 motion. Kết hợp điều khiển robot – cảm biến leap motion gắp vật Tháng 7 đến tháng 8 trong môi trường có dao động. Tháng 8 đến tháng 9 Viết báo cáo luận văn tốt nghiệp. Tháng 9 đến tháng 10 Chuẩn bị cho báo cáo luận văn tốt nghiệp.
1 Kế hoạch thực hiện 5 Luan van CHƯƠNG II. Phương pháp bù dao động cho hoạt động ngoài khơi 2. Giới thiệu chung về phương pháp bù dao động Trước hết, nắm được thuật ngữ heave compensation ( bù dao động ) & anti-sway control (điều khiển chống dao động). Các vấn đề an toàn và hiệu quả trong những hoạt động ngoài khơi được giải quyết chưa triệt để từ những thành tựu trước đây.
Và phương pháp bù dao động là phương pháp được sử dụng khá hiệu quả và khắc phục được những nhược điểm so với những phương pháp trước kia. Điểm khác nhau lớn nhất của những thành tựu này là phương pháp tiếp cận. Thứ nhất là phương pháp bù chuyển động thụ động (PHC). Chẳng hạn như lồng giảm xóc Frederick của hệ thống bù chuyển động bằng một chương trình tối ưu hóa bậc hai tuần tự.
Hatleskog và Dunnigan nghiên cứu hệ thống bù chuyển động sóng biển dùng xi lanh khí nén. Thứ hai là phương pháp bù dao động chủ động (AHC) cho các tàu khoan bằng cách bổ sung thêm chuyển động theo chiều thẳng đứng của tải, từ đó có thể hãm sự dao động của tải. 1 Cần cẩu hoạt động ngoài khơi 6 Luan van Không những thế, để đạt hiệu quả tối đa cho phương pháp bù dao động, người ta đã kết hợp với phương pháp điều khiển chống dao động. Như phương pháp điềp khiển song song lực & vị trí cho các tải cẩu hoạt động ngoài khơi (tác giả Skaare and Egeland).
Giai đoạn đầu là bù dao động, điều khiển thay đổi chiều dài dây cáp kết nối với tải tương ứng với dao động của tải bởi sóng biển. Giai đoạn thứ hai là kiểm soát vận tốc tương đối giữa sóng biển và tải để giảm tác động của thủy động lực lên tải đặt ngoài khơi. Hệ thống bù dao động thụ động (PHC) và bù dao động chủ động (AHC). 2 Hệ thống AHC và PHC Hệ thống bù dao động thụ động (PHC : Passive Heave Compensation), bao gồm xi lanh hoặc bình nén khí, tay quay, ròng rọc.
Họ đơn giản hóa hệ thống bằng cách điều khiển vòng kín và hầu như không yêu cầu hệ thống điều khiển điện tử. Hầu hết các hệ thống PHC có thể không an toàn. Hệ thống PHC có thể giảm thiểu tác động của sóng 7 Luan van biển nhưng không tối ưu bằng hệ thống AHC (bù dao dộng chủ động).