ĐẶT VẤN ĐỀ Vườn Quốc gia Bidoup - Núi Bà (VQG BDNB) nằm trên địa bàn huyện Lạc Dương và huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng – vùng lõi của Khu dự trữ sinh quyển thế giới Langbiang – có một vị trí địa lý sinh học hết sức quan trọng. Đây là khu vực chuyển tiếp giữa 3 vùng sinh thái Lâm nghiệp là Duyên hải Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ và Tây Nguyên. Hơn nữa, VQG BDNB còn là khu vực chuyển tiếp giữa vùng thấp ven biển với vùng cao nguyên, điều này đã tạo cho nơi đây những giá trị đa dạng sinh học đặc trưng, đại diện cho vùng núi cao nguyên với những kiểu rừng cây lá kim, rừng hỗn giao cây lá rộng cây lá kim, rừng kín thường xanh chủ yếu cây lá rộng,. và là một hành lang sinh học cho sự phát triển của các loài động, thực vật từ vùng núi thấp lên vùng núi trung bình.
Vườn được đánh giá là một trong bốn trung tâm Đa dạng sinh học của Việt Nam. Kết quả tổng hợp các báo cáo khảo sát đa dạng sinh học và nghiên cứu về đa dạng sinh học năm 2021, đã ghi nhận khu hệ thực vật có mạch của VQG này lên con số 2.089 loài trên tổng số khoảng 13.000 loài của khu hệ thực vật Việt Nam thuộc 829 chi, 186 họ khác nhau. VQG BDNB đặc biệt có nhiều loài dược liệu có giá trị dưới tán rừng, trong đó có loài Sói rừng (Sarcandra glabra (Thunb.) Nakai), đây là một trong những tiềm năng phát triển dược liệu dưới tán rừng và cải thiện sinh kế cho cộng đồng dân cư sống gần rừng. Sói rừng có nhiều công dụng như kháng khuẩn tiêu viêm, khu phong trừ thấp, hoạt huyết chỉ thống, chủ trị viêm phổi, viêm phế quản, viêm ruột thừa cấp tính, viêm dạ dày ruột cấp tính, lỵ nhiễm khuẩn, phong thấp đau nhức, đòn ngã tổn thương, gãy xương,… Những năm gần đây, do nhu cầu dược liệu tăng cao, Sói rừng đang bị khai thác quá mức tại VQG BDNB, khiến cho quần thể bị suy giảm mạnh.
2 Việc xây dựng và áp dụng những giải pháp kỹ thuật lâm sinh cùng với các giải pháp quản lý phù hợp để bảo vệ loài trong tự nhiên và gây trồng, phát triển trồng dưới tán rừng là rất cấp thiết để bảo tồn loài Sói rừng tại VQG BDNB. Xuất phát từ những lý do trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm phân bố, tái sinh và kỹ thuật nhân giống loài Sói rừng (Sarcandra glabra (Thunb.) Nakai) tại Vườn Quốc gia Bidoup – Núi Bà, tỉnh Lâm Đồng” nhằm cung cấp các thông tin về đặc điểm phân bố, tái sinh và thử nghiệm kỹ thuật nhân giống của loài Sói rừng để từ đó đề xuất giải pháp bảo tồn, phát triển bền vững loài dược liệu quý này. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới Sói rừng có tên gọi khác là Sói láng, Sói nhẵn, tên khoa học chính thức là Sarcandra glabra (Thunb.) Nakai, 1930, tên đồng danh là Bladhia glabra Thunb.
1793; Chloranthus brachystachys Blume, 1829, thuộc họ Hoa sói (Chloranthaceae). Hiện nay, ghi nhận có phân bố ở Đông Châu Á như: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Sri Lanka, Thái Lan, Lào, Cam Pu Chia, Malaysia, Philippines và Việt Nam. Nghiên cứu của W. LI và cộng sự (2006) [16] về dịch chiết từ cây Sói rừng tại Trung Quốc đã khẳng định: Sói rừng là một loại dược thảo Trung Quốc với đặc tính chống khối u, chống viêm, chống virus và tăng cường miễn dịch đặc hiệu.
Mặc dù cây Sói rừng đã được sử dụng trên lâm sàng để điều trị nhiều loại bệnh, các thành phần hoạt tính sinh học phần lớn chưa được biết đến và giá trị dược tính của nó được nghiên cứu. Trong nghiên cứu này, đặc tính chống khối u của dịch chiết từ Sói rừng bằng dung môi ethyl acetate (EA) được nghiên cứu bằng cách xác định chất ức chế tăng trưởng in vitro của nó ảnh hưởng đến một nhóm các dòng tế bào ung thư ở người. Sự ức chế tăng trưởng của chiết xuất EA đối với các dòng tế bào ung thư có tính chọn lọc, phản ứng tốt nhất sau 48 giờ điều trị. Các nghiên cứu về lưu lượng tế bào được minh chứng rằng chiết xuất có thể can thiệp vào quá trình sao chép DNA và do đó nó ức chế chu kỳ tế bào ở pha S (giai đoạn các nhiễm sắt thể nhân đôi) trong các tế bào bạch cầu, tiếp theo bằng cách phân mảnh DNA và mất đi sự bất đối xứng của Phospholipid trong màng sinh chất sau 72 giờ điều trị.
Tất cả những phát hiện này gợi ý rằng chiết xuất đã bắt đầu quá trình Apoptosis để tiêu diệt tế bào bạch cầu. Kết quả từ nghiên cứu tiên phong này giúp thiết lập một nền tảng khoa học cho nghiên cứu và phát triển trong tương lai của các thành phần hoạt tính sinh học của chất EA từ cây Sói rừng là chất chống ung thư hiệu quả. Phân loại, đặc điểm sinh thái Tên loài: Sói rừng có tên gọi khác là Sói láng, Sói nhẵn, tên thảo dược liên quan: cửu tiết trà, quan âm trà, tiếp cốt mộc, cửu tiết phong, cửu tiết lan, sơn hồ tiêu, cốt phong tiêu, tiếp cốt trà Tên khoa học Sarcandra glabra (Thunb. Họ Hoa sói (Chloranthaceae) Đặc điểm nhận biết: Cây Sói rừng có chiều cao 1–2 mét, thân nhẵn, các mấu hơi phồng.
Nhánh cây tròn, không có lông, với các lá mọc đối, phiến dài hình bầu dục hay hình ngọn giáo, chiều dài 7–20 cm và rộng 2–8 cm với 5-7 cặp gân bên. Mép lá có răng cưa nhọn và thô, kèm với các tuyến. Cuống lá dài 5–8 mm. Bông kép, ít nhánh, nhánh ngắn với hoa nhỏ màu trắng không có cuống và có một nhị.
Bầu nhụy có hình trứng và không có vòi. Cây ra quả mọng nhỏ, hình gần tròn đường kính 3–4 mm, khi chín có màu đỏ hay đỏ gạch. Cây ra hoa vào tháng 6–7 và quả chín vào tháng 8–9. Phân bố Loài sói rừng là loài cây bụi thường xanh, có nguồn gốc ở vùng Đông Nam Á.
Hiện nay cây phân bố ở các Quốc gia và vùng lãnh thổ như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Ấn Độ, Việt Nam và Malaysia, tại Việt Nam cây có thể tìm thấy ở các khu vực Lạng Sơn, Bắc Thái, Hoà Bình, Hà Tây đến Kon Tum, Lâm Ðồng, mọc hoang ở những vùng núi đất, bìa rừng và ven đồi, ven suối. Khai thác sử dụng và trồng thử nghiệm - Khai thác sử dụng, nghiên cứu Sói rừng khai thác sủ dụng chủ yếu lấy lá, rễ, hoa để làm thuốc vì Sói rừng có công dụng chữa bệnh rất tốt trong Đông y như: Hoạt huyết giảm đau, khư phong trừ thấp, tiêu viêm giải độc. Trong dân gian, rễ cây được ngâm rượu, uống chữa đau tức ngực. Lá được sắc uống trị bệnh lao, hoặc giã đắp 5 chữa rắn cắn, ngâm rượu xoa bóp chữa vết thương, mụn nhọt, phong thấp, đau nhức xương, toàn bộ cây sói rừng cũng được dùng để chữa bệnh động kinh.
Ở Trung Quốc, cây được dùng trị ung thư tuỵ, dạ dày, trực tràng, gan, cuống họng, viêm não B truyền nhiễm, lỵ trực trùng, viêm ruột thừa cấp. Năm 1970 tác giả Phạm Hoàng Hộ là người đầu tiên mô tả đặc điểm hình thái cây Sói rừng, sau đó được nhắc lại vào năm 1991 và 1999. Theo tác giả, hoa Sói rừng dùng ướp trà, lá có tác dụng phấn khích, trị dập gãy xương, kiết [9]. Đề tài của Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Cao Bằng: “Nghiên cứu ứng dụng Sói rừng để hỗ trợ điều trị một số bệnh ung thư”, thời gian thực hiện từ 2010 đến 2013.
Kết quả nghiên cứu đã xác định được cấu trúc hóa học của 3 hợp chất trong cây Sói rừng, đó là: Chloranoside A, tertorigenin 7- glucoside và 1β; 3β-Dihydroxylup-20(29)-en. Đề tài cũng kết luận Sói rừng có tác dụng ức chế sự phát triển khối u ở 70% chuột tại liều điều trị 20g/kg thể trọng và 50 % ở liều điều trị 10g/kg thể trọng và có tác dụng gây kìm hãm tăng trưởng khối u và suy giảm thể tích khối u trên 42% chuột ở liều điều trị 20g/kg thể trọng và 50% ở liều điều trị 10g/kg thể trọng. Bùi Văn Trọng và cộng sự (2014) đã nghiên cứu ảnh hưởng của một số chất điều hòa sinh trưởng tới sự hình thành rễ của hom cây Sói rừng đã khẳng định sử dụng NAA ở 1% cho kết quả giâm hom Sói rừng tốt nhất, đạt 86,67% hom sống và ra rễ, số lượng rễ trung bình là 5,08 rễ/hom, chiều dài rễ trung bình là 3,68 cm [2]. Báo cáo kết quả đề tài nghiên cứu xây dựng quy trình nhân giống và nuôi trồng cây Sói rừng là dược liệu tại tỉnh Lâm Đồng.
Tại Vườn Quốc gia Bidoup- Núi Bà theo kết quả khảo sát và bổ sung của Trung tâm đa dạng sinh học và Phát triển (CBD) được thực hiện vào năm 2010 thì số lượng loài được ghi nhận tại đây sau khi cập nhật đã lên đến 1.922 loài, thuộc 826 chi và 179 họ. Trong đó loài Sói rừng đang được nhân giống bằng các biện pháp giâm hom. Trong phạm vi đề tài, chúng tôi sẽ thử nghiệm 6 tiếp các phương pháp nhân giống như: Gieo hạt và tách hom gốc để cung cấp thêm các phương pháp nhân giống cho đối tượng nghiên cứu. Khái quát điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu VQG Bidoup - Núi Bà nằm trên địa giới hành chính 2 huyện Lạc Dương và Đam Rông.
*Tổng diện tích tự nhiên 70.038,745 ha gồm: Phần diện tích đất lâm nghiệp: 69.322,065 ha (đất có rừng: 65.994,065 ha,đất chưa có rừng: 3.328 ha); Phần diện tích đất khác: 716,68 ha. * Diện tích các phân khu chức năng: Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt: 33.582 ha; Phân khu phục hồi sinh thái: 22.854 ha; Phân khu Hành chính - Dịch vụ: 8.707,47 ha; VQG Bidoup – Núi Bà còn được giao quản lý thêm 3.991,275ha do Ban quản lý Đankia - Đà Lạt chuyển sang từ ngày 01/4/2011. * Diện tích vùng đệm: 39. *Vị trí địa lý, hành chính VQG Bidoup - Núi Bà có tọa độ địa lý: Từ 12000’04” đến 12052’00” vĩ độ Bắc.
Từ 108017’00” đến 108042’00” kinh độ Đông. Ranh giới phía Bắc trùng với ranh giới giữa hai tỉnh Lâm Đồng và Đắk Lắk; ranh giới phía Đông trùng với ranh giới hai tỉnh Lâm Đồng, Ninh Thuận và Khánh Hòa; ranh giới phía Tây giáp xã Đưng Knớ thuộc huyện Đam Rông; Phía Nam giáp các xã Lát, xã Dạ Sa, xã Đạ Chais (huyện Lạc Dương). VQG cách thành phố Đà Lạt về phía Bắc 20 km theo đường liên tỉnh 723. *Địa hình Trải rộng toàn bộ trên địa hình vùng núi trung bình và núi cao của cao nguyên Đà Lạt, thuộc phần cuối dãy Trường Sơn Nam trên khu vực có độ cao biến động từ 700m tới trên 2.200m, độ cao trung bình 1.