Chương 1: Tổng quan về tài liệu phông lưu trữ Ban Chấp hành Trung ương từ khóa VI đến khóa IX (1986 - 2006). 9 z Chương 2: Giá trị tài liệu của phông lưu trữ Ban Chấp hành Trung ương Đảng - Nguồn sử liệu nghiên cứu về công cuộc đổi mới của Đảng (1986 - 2006). Chương 3: Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh việc khai thác, sử dụng khối tài liệu phông Lưu trữ Ban Chấp hành Trung ương Đảng phục vụ nghiên cứu sự nghiệp đổi mới đất nước do Đảng ta lãnh đạo. Kết luận Tài liệu tham khảo Phụ lục 10 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU PHÔNG LƢU TRỮ BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƢƠNG TỪ KHÓA VI ĐẾN KHÓA IX (1986 - 2006) 1.
Bối cảnh lịch sử và công cuộc đổi mới của Đảng ta từ năm 1986 đến năm 2006. Bối cảnh lịch sử của công cuộc đổi mới. Công cuộc đổi mới của nước ta diễn ra trong bối cảnh quốc tế có những biến đổi to lớn, sâu sắc và rất phức tạp, đó là : Sự khủng hoảng và sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu là biến cố lớn nhất làm thay đổi hẳn cục diện chính trị thế giới. Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ, kỳ diệu, tác động sâu sắc đến tất cả mọi lĩnh vực của quốc gia và quan hệ quốc tế.
Toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế khách quan, vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực, tác động ngày càng mạnh mẽ đến tất cả các quốc gia và quan hệ quốc tế. Sự bùng phát những vấn đề toàn cầu và sự hợp tác quốc tế để giải quyết các vấn đề đó là nhân tố quan trọng của tình hình quốc tế. Một là, vấn đề thay đổi trật tự thế giới. Hai là, vấn đề chiến tranh và hòa bình; xu thế hợp tác để phát triển.
Ba là, những kinh nghiệm quốc tế về cải cách. Trong nước, với thắng lợi hoàn toàn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới với đặc điểm: từ chiến tranh chuyển sang hòa bình; từ đất nước bị chia cắt chuyển sang cả nước độc lập, thống nhất; từ hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam chuyển sang nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước và bảo vệ Tổ quốc. 11 z Ngay sau khi giải phóng, cân nhắc tình hình mọi mặt của đất nước và điều kiện quốc tế, Đảng ta chủ trương nhanh chóng thống nhất đất nước về mặt Nhà nước. Đi vào xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc trên phạm vi cả nước.
Bên cạnh những mặt thuận lợi, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội đứng trước những khó khăn to lớn. Chúng ta bắt tay xây dựng chủ nghĩa xã hội trên cả nước với cơ sở xuất phát là một nền kinh tế rất nghèo nàn, lạc hậu, trong xã hội còn nhiều yếu tố phức tạp do quá khứ và do chủ nghĩa thực dân mới để lại. Cơ sở vật chất - kỹ thuật lạc hậu, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Tuyệt đại bộ phận lao động là thủ công, năng suất lao động rất thấp.
Đời sống nhân dân rất khó khăn. Vấn đề vốn để công nghiệp hóa rất gay gắt. Điều kiện quốc tế của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta sau ngày giải phóng miền Nam cũng còn những khó khăn không nhỏ. Công cuộc xây dựng kinh tế của chúng ta dựa nhiều vào nguồn viện trợ từ bên ngoài, chủ yếu là vay của Liên Xô, nhưng nguồn viện trợ đã giảm dần.
Mâu thuẫn giữa các nước xã hội chủ nghĩa đã gây khó khăn cho sự phát triển mối quan hệ giữa nước ta và các nước xã hội chủ nghĩa. Quan hệ kinh tế giữa nước ta với các nước tư bản chủ nghĩa phát triển rất chậm. Chúng ta chưa có nhiều cơ hội tiếp cận nguồn vốn, khoa học - kỹ thuật từ các nước tư bản phát triển. Mỹ và các nước phương Tây tiến hành bao vây, cấm vận nước ta.
Ngoài ra, chúng ta phải đối phó với hai cuộc chiến tranh ở biên giới phía Bắc và ở biên giới phía Tây Nam, đất nước thực chất chưa có hòa bình, buộc phải đầu tư quá lớn cho quốc phòng, ảnh hưởng nhiều đến xây dựng kinh tế. Quan hệ giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và đa số các nước khác trở nên bất bình thường trong thời kỳ “Vấn đề Campuchia” chưa được giải quyết. Có lúc Việt Nam gần như bị cô lập trên diễn đàn quốc tế. 12 z Vượt lên tất cả những khó khăn đó, nhân dân ta đã ra sức phấn đấu xây dựng đất nước đạt được nhiều thành tựu.
Chúng ta đã giải quyết kịp thời nhiều vấn đề cấp bách về kinh tế - xã hội, khắc phục từng bước những hậu quả nặng nề do chiến tranh gây ra, khôi phục hầu hết các cơ sở sản xuất bị phá hoại, đầu tư xây dựng mới nhiều cơ sở kinh tế quan trọng. Các ngành nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp có những bước phát triển nhất định. Đảng và Nhà nước ta đã có những cố gắng lớn để sớm ổn định đời sống của nhân dân. Tuy nhiên, nhìn cả quá trình 10 năm (1976-1985), kinh tế có chiều hướng đi xuống.
Tốc độ tăng bình quân về công nghiệp thời kỳ 1976-1980 là 0,6%, nông nghiệp là 1,9%, thu nhập quốc dân là 0,4%, trong khi đó dân số tăng 4,5 triệu người. Thực chất, đây là giảm sút. Các chỉ tiêu Đại hội IV đặt ra đều không đạt được, đặc biệt sản xuất nông nghiệp cuối những năm 70 giảm sút mạnh. Bình quân lương thực đầu người năm 1980 chỉ đạt 268kg; phải nhập 1.000 tấn lương thực.
Tình trạng yếu kém của kinh tế còn ở chỗ không có hàng để xuất khẩu; một nước năm, sáu mươi triệu người dân mà xuất khẩu chỉ đạt từ 300 đến 500 triệu đô la mỗi năm và nhập gấp 4-5 lần xuất. Giá cả leo tháng mỗi năm trên dưới 20%, đặc biệt trong 3 năm (1986- 1988) xuất hiện tình trạng lạm phát phi mã, tăng hàng năm 3 con số [38]. Trước tình hình đó, Đảng và nhân dân ta không còn sự lựa chọn nào khác là phải đổi mới, trước hết là đổi mới cách nghĩ, cách làm, bứt phá về kinh tế - xã hội, nhằm xây dựng chủ nghĩa xã hội một cách có hiệu quả hơn. Công cuộc đổi mới của Đảng và những nội dung đổi mới giai đoạn 1986 - 2006.
Đại hội VI của Đảng (tháng 12-1986) đã đưa ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước - từ đổi mới kinh tế là chủ yếu đến đổi mới chính trị, văn hóa, xã hội; từ đổi mới tư duy, nhận thức, tư tưởng đến đổi mới hoạt động thực 13 z tiễn, đổi mới tổ chức và phong cách công tác; đặc biệt, Đảng phải đổi mới để có đủ năng lực và sức chiến đấu ngang tầm nhiệm vụ chính trị của một Đảng cầm quyền đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Sau 20 năm đổi mới, với sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, công cuộc đổi mới đã đạt được những thành tựu to lớn cả về nhận thức và hoạt động thực tiễn, tập trung ở một số lĩnh vực chủ yếu sau: Về kinh tế, đã có những đổi mới quan trọng về nhận thức trên các mặt: Về mô hình kinh tế của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; về công nghiệp hóa, hiện đại hóa; về quan hệ giữa xây dựng kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Những đổi mới trong thực tiễn về lĩnh vực kinh tế: Một là, đã đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, kinh tế tăng trưởng nhanh, cơ sở vật chất - kỹ thuật được tăng cường, đời sống của các tầng lớp nhân dân không ngừng cải thiện. Hai là, thực hiện có kết quả chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần.
Ba là, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dần được hình thành. Bốn là, cơ cấu kinh tế ngành, vùng có sự chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Năm là, đạt được những kết quả tích cực trong hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Về văn hóa, xã hội, con ngƣời, đã có những đổi mới trong nhận thức trên hai vấn đề quan trọng: Một là, về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội.
Hai là, về văn hóa và con người. 14 z Về mặt thực tiễn, nhìn chung mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ở nước ta đã được giải quyết một cách có hiệu quả. Nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao trong nhiều năm liền. Các cơ hội phát triển được mở rộng cho mọi thành phần kinh tế, mọi tầng lớp dân cư.
Đời sống đại bộ phận nhân dân được cải thiện rõ rệt. Công tác giải quyết việc làm và xóa đói, giảm nghèo đạt kết quả tốt. Sự nghiệp giáo dục có bước phát triển mới về quy mô, đa dạng hóa về loại hình trường lớp từ mầm non, tiểu học đến cao đẳng, đại học. Khoa học - công nghệ và tiềm lực khoa học - công nghệ có bước phát triển nhất định.
Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân có tiến bộ. Về văn hóa, việc triển khai thực hiện 10 nhiệm vụ do Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khóa VIII) đề ra đã góp phần củng cố sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội đối với đường lối đổi mới toàn diện đất nước. Tính chủ động, sáng tạo, tính tích cực xã hội của nhân dân bước đầu được phát huy. Cơ cấu xã hội nước ta có những biến đổi theo hướng tiến bộ.
Cùng với giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức đã hình thành đội ngũ doanh nhân tham gia tích cực vào công cuộc đổi mới đất nước. Về hệ thống chính trị. Nhận thức của Đảng ta trên vấn đề này có những đổi mới căn bản sau đây: Từ Hội nghị Trung ương 6 khóa VI, Đảng ta sử dụng khái niệm hệ thống chính trị. Hệ thống đó bao gồm : Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội.
Hệ thống chính trị vận hành theo cơ chế: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”; trong đó, Đảng vừa là bộ phận của hệ thống chính trị, vừa là “hạt nhân” lãnh đạo hệ thống ấy; hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật.