CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Các hệ sinh thái rừng đóng vai trò hết sức quan trọng đối với con người và đặc biệt là duy trì môi trường sống, đóng góp vào sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia và sự tồn tại của trái đất. Rừng không chỉ cung cấp nguyên liệu như gỗ, củi, lâm sản ngoài gỗ cho một số ngành sản xuất mà quan trọng hơn là các lợi ích của rừng trong việc duy trì và bảo vệ môi trường, đó là hạn chế xói mòn, điều tiết nguồn nước, hạn chế lũ lụt, điều hoà khí hậu, các giá trị cảnh quan, bảo tồn đa dạng sinh học.[12] Theo kết quả nghiên cứu của S.Belop (1976) cho thấy: Mỗi năm sinh vật quang tổng hợp trên trái đất đồng hóa khoảng 170 tỷ tấn dioxitcarbon (CO2) để tạo ra khoảng 100 tỷ tấn chất hữu cơ, 115 tỷ tấn O2 tự do - tạo điều kiện cho sự tồn tại và tiến hóa của các dạng sống, các quần thể và các hệ sinh thái trên cơ sở các mối liên kết bởi các quá trình sinh - địa - hóa. Và nếu như tất cả thực vật trên trái đất đã tạo ra 53 tỷ tấn sinh khối (ở dạng khô tuyệt đối là 67%) thì rừng tạo ra 37 tỷ tấn (chiếm gần 70%).
Cùng với đó các cây rừng sẽ thải ra 52,2 tỷ tấn (hay 44%) dưỡng khí để phục vụ cho hô hấp của con người, động vật và sâu bọ trên trái đất trong khoảng 2 năm. Mỗi người một năm cần 4.000 kg O2 tương ứng với lượng oxy do 1.000 m2 cây xanh tạo ra trong một năm[23]. Mặt khác, một ha rừng hàng năm tạo nên sinh khối khoảng 300 - 500 kg, 16 tấn oxy (rừng thông 30 tấn, rừng trồng 3 - 10 tấn)[24]. Vì vậy, trong các hệ sinh thái của sinh quyển thì hệ sinh thái rừng có năng suất cao hơn cả và có một vai trò vô cùng quan trọng với con người, nhưng do nhiều thế kỷ qua do thiếu ý thức, kiến thức, thiếu kinh nghiệm hoặc vì những lợi ích trước mắt, việc khai thác các giá trị của rừng một n 5 cách “không nghĩ tới tương lai” đã làm cho rừng bị tàn phá, hủy hoại nghiêm trọng, đồng thời cùng với quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước đã là một trong những nguyên nhân chính là biến đổi khí hậu[25].
Trong những năm gần đây nhận thức về vai trò của rừng, đặc biệt là giá trị to lớn của dịch vụ môi trường do rừng mang lại đã và đang được thừa nhận trên phương diện quốc tế và ở Việt Nam. Nhằm duy trì những giá trị dịch vụ môi trường của rừng và đảm bảo sự công bằng cho người làm rừng, các cơ chế tài chính về chi trả dịch vụ môi trường rừng đang trở thành một giải pháp hiệu quả ở nhiều quốc gia nhằm đảm bảo nguồn tài chính bền vững cho quản lý bền vững tài nguyên rừng. Bản chất của hoạt động chi trả dịch vụ môi trường là tạo cơ chế khuyến khích và mang lại lợi ích cho những người hiện đang sử dụng các hệ sinh thái có ý nghĩa môi trường để đổi lấy việc họ sử dụng các hệ sinh thái này theo cách bảo vệ hoặc tăng cường các dịch vụ môi trường để phục vụ lợi ích của phần đông dân số. Với cách làm này thì từng người dân của cộng đồng có thể được hưởng lợi trực tiếp từ dịch vụ họ mang lại.
Nói cách khác, những người cung cấp dịch vụ môi trường cần phải được chi trả hoặc bồi hoàn cho những gì họ làm để duy trì chức năng của hệ sinh thái, và những người sử dụng dịch vụ môi trường nên chi trả cho những dịch vụ này [26]. Một số khái niệm cơ bản Ở Việt Nam, thuật ngữ dịch vụ hệ sinh thái được sử dụng phổ biến hơn thuật ngữ dịch vụ môi trường bởi vì dịch vụ môi trường đang được hiểu là theo nghĩa bảo vệ môi trường như các vấn đề ô nhiễm. Thuật ngữ dịch vụ hệ sinh thái được sử dụng trong dự thảo Luật Đa dạng sinh học và khung chính sách thí điểm của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. n 6 Hơn 10 năm qua, khái niệm chi trả dịch vụ môi trường và các ứng dụng của nó đã và đang nhận được sự quan tâm đáng kể của các nhà nghiên cứu môi trường, các nhà khoa học và nhà hoạch định chính sách trong toàn khu vực Đông Nam Á.
Gần đây sự thành công của Chương trình ‘Chi trả dịch vụ môi trường cho người dân vùng cao về dịch vụ môi trường mà họ cung cấp - RUPES’ tại Việt Nam. Đây là kết quả của sự quan tâm của chính phủ Việt Nam, cụ thể là của Trung tâm nghiên cứu sinh thái và môi trường rừng (RCFEE) Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam (FSIV), Bộ Tài nguyên và Môi trường (MONRE), và là đóng góp đáng kể của đối tác RUPES, trong đó có Tổ chức Winrock Quốc tế, Trung tâm Nông Lâm nghiệp thế giới (ICRAF), Trung tâm Nghiên cứu lâm nghiệp quốc tế (CIFOR), Quỹ Quốc Tế Bảo Vệ Thiên Nhiên (WWF), Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (IUCN) trong 5 năm qua [34]. Trong quyết định 380 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách thí điểm chi trả dịch vụ môi trường cũng đã nêu một số định nghĩa như sau: Dịch vụ MTR là việc cung ứng và sử dụng bền vững các giá trị sử dụng của môi trường rừng. Trong đó dịch vụ MTR bao gồm: Điều tiết nguồn nước, bảo vệ đất, chống bồi lắng lòng hồ, ngăn chặn lũ lụt, lũ quét, cảnh quan, đa dạng sinh học….
Chi trả dịch vụ MTR là quan hệ kinh tế giữa người sử dụng các dịch vụ MTR trả tiền cho người đó, các loại dịch vụ MTR được sử dụng trong chính sách thí điểm này, gồm: 1. Dịch vụ về điều tiết và cung ứng nguồn nước; 2. Dịch vụ về bảo vệ đất, hạn chế xói mòn, chống bồi lắng lòng hồ; 3. Dịch vụ về du lịch.
Chi trả dịch vụ MTR trực tiếp: là việc người sử dụng dịch vụ MTR (người phải chi trả) trả tiền trực tiếp cho người cung ứng dịch vụ MTR (người được chi trả); n 7 Chi trả dịch vụ MTR gián tiếp: là việc người sử dụng dịch vụ MTR chi trả gián tiếp cho người cung ứng dịch vụ MTR thông qua một tổ chức và thực hiện theo quy định tại Khoản 2, Điều 10 Quyết định này [21]. Ngày 24-9-2010, Chính phủ ra nghị định số 99/2010/ND-CP. Nghị định đưa ra các khái niệm tương đối đầy đủ. Trong đó chỉ rõ: Môi trường rừng bao gồm các hợp phần của hệ sinh thái rừng: Thực vật, động vật, vi sinh vật, nước, đất, không khí, cảnh quan thiên nhiên.
Môi trường rừng có các giá trị sử dụng đối với nhu cầu của xã hội và con người, gọi là giá trị sử dụng của môi trường rừng, gồm: Bảo vệ đất, điều tiết nguồn nước, phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ ven biển, phòng chống thiên tai, đa dạng sinh học, hấp thụ và lưu giữ các bon, du lịch, nơi cư trú và sinh sản của các loài sinh vật, gỗ và lâm sản khác. Dịch vụ môi trường rừng là công việc cung ứng các giá trị sử dụng của môi trường rừng để đáp ứng các nhu cầu của xã hội và đời sống của nhân dân, bao gồm các loại dịch vụ: + Bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng sông, lòng suối. + Điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất và đời sống xã hội. + Hấp thụ và lưu giữ các bon của rừng, giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính bằng các biện pháp ngăn chặn suy thoái rừng, giảm diện tích rừng và phát triển rừng bền vững.
+ Bảo vệ cảnh quan tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học của các hệ sinh thái phục vụ cho du lịch. + Dịch vụ cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn và con giống tự nhiên, sử dụng nguồn nước từ rừng cho nuôi trồng thủy sản[18]. Theo công văn về chi trả dịch vụ môi trường rừng ở Việt Nam của Vụ trưởng Vụ Nông Nghiệp, Văn phòng Chính phủ Nguyễn Tuấn Phú ngày 01-4-2008 : n 8 Môi trường rừng là giá trị sử dụng trừu tượng (còn gọi là giá trị sử dụng gián tiếp) do rừng tạo ra và rừng bảo vệ mà có được, bao gồm: - Điều hòa nguồn nước, cung cấp nước cho thuỷ điện, thuỷ lợi, các hoạt động sản xuất và đời sống của xã hội. - Dự trữ sinh quyển, tạo môi trường không khí trong lành.
- Bảo vệ, cải tạo đất, chống rửa trôi xói mòn đất. - Bảo vệ các công trình kinh tế quan trọng không bị lũ quét, sóng thần, vùi lấp, phá huỷ. - Ngăn chặn lũ lụt. - Tạo môi trường cảnh quan thiên nhiên (phục vụ Du lịch sinh thái, văn hoá, nghỉ dưỡng…).
- Bảo tồn đa dạng sinh học, đặc biệt là bảo tồn những nguồn gen động, thực vật quý hiếm của thiên nhiên phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Dịch vụ môi trường rừng là các giá trị sử dụng trừu tượng được tạo thành từ môi trường rừng (nêu trên) được cung ứng (dịch vụ) cho xã hội (hay người hưởng lợi). Nói cách khác: dịch vụ môi trường rừng là việc cung ứng và sử dụng bền vững các giá trị sử dụng trừu tượng của rừng, giữa bên cung ứng dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ. Chi trả dịch vụ môi trường rừng là quan hệ kinh tế (trao đổi) giữa người sản xuất cung ứng dịch vụ môi trường rừng (người bán) cho người hưởng thụ dịch vụ môi trường rừng (người mua, người phải chi trả) Các hình thức chi trả dịch vụ môi trường rừng cũng gần như tại QĐ 380 của Thủ tướng Chính phủ, gồm: - Chi trả dịch vụ môi trường rừng trực tiếp: là hoạt động giao dịch trao đổi giữa người bán và người mua.
Người lao động lâm nghiệp (các chủ rừng) n 9 tạo được hoặc bảo vệ, giữ gìn được môi trường cảnh quan thiên nhiên trong rừng; những người muốn vào khu rừng để thăm quan, chiêm ngưỡng, thưởng thức cảnh quan thiên nhiên, thậm chí nghỉ dưỡng, nghiên cứu khoa học, vv. phải trả tiền mua vé để được đến với khu rừng, đấy là giao dịch chi trả dịch vụ môi trường rừng trực tiếp.