CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Khái niệm về xi măng, xỉ lò cao: 1.1 Khái niệm về Xi măng: Chất kết dính thủy ở dạng bột mịn, khi trộn với nước thành dạng hồ dẻo, có khả năng đóng rắn trong không khí và trong nước nhờ phản ứng hóa lý, thành vật liệu dạng đá [1]. Xi măng là một loại chất kết dính thủy lực, khi trộn nó với nước sẽ tạo hồ dẻo có tính kết dính và đóng rắn trong môi trường nước, môi trường không khí. Hồ dẻo trong quá trình đóng rắn sẽ phát triển cường độ.
Xi măng được tạo thành bằng cách nghiền mịn clanhke, thạch cao và phụ gia. - Thành phần khoáng trong clanhke xi măng poóc lăng: Clanhke xi măng poóc lăng có nhiều khoáng khác nhau trong đó có bốn khoáng chính, các khoáng này quyết định đến tính chất của xi măng. Các thành phần khoáng, phạm vi giới hạn, hình dạng và đặc điểm như sau: + Alite [2] là khoáng silicat quan trọng của clanhke xi măng poóc lăng. Khoáng Alite là hỗn hợp nhiều khoáng, mà khoáng chủ yếu là 3CaO.SiO2 (C3S gọi là Silicat tricanxi), ngoài ra trong Alite còn chứa khoảng 4% 3CaO.
Al2O3 (C3A) và một lượng nhỏ MgO; chúng tạo thành dung dịch rắn. Alite là khoáng quan trọng nhất trong clanhke xi măng poóc lăng, thường chiếm từ 45 ÷ 60%. Cấu trúc mạng lưới tinh thể của Alite có thể thay đổi khi Al2O3 được thay thế bằng Fe2O3 và MgO bằng FeO. Alit có cấu trúc dạng tấm hình lục giác (hình 1.1), màu trắng, có khối lượng riêng 3,15 ÷ 3,25 g/cm3, có kích thước 10 ÷ 250 µm.
Xi măng Poóc lăng chứa hàm lượng Alite cao, nên rắn nhanh và cho cường độ cao, ít co thể tích. Đồng thời lượng Ca(OH)2 thoát ra khá nhiều nên kém bền trong môi trường nước và nước chứa ion sun phát. HV: Nguyễn Thị Ký 12 Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS. TS Tạ Ngọc Dũng Hình 1.
1: Hình chụp khoáng Alite [3] (Khoáng Alite C3S có dạng tinh thể hình lục giác [3]) + Belite [2]: Là khoáng chính thứ hai trong clanhke xi măng poóc lăng. Thành phần khoáng chủ yếu là silicat dicanxi: 2CaO. Hàm lượng belit trong clanhke xi măng Poóc lăng chiềm từ 20÷30%. Belit tồn tại dưới 5 dạng thù hình: α – C2S, α’L – C2S, α ‘H – C2S, β – C2S, γ – C 2S.
Các dạng thù hình khác nhau ở cấu trúc mạng tinh thể do đó khác nhau về tính chất. Trong đó β – C2S là dạng giả ổn định trong clanhke xi măng poóc lăng. Belit chủ yếu là β – C 2S là khoáng đóng rắn tương đối chậm, cho cường độ ban đầu không cao nhưng về sau phát triển cường độ tốt. Sản phẩm đóng rắn của β – C 2S bền vững trong môi trường nước và nước khoáng.
Khoáng Belite có hình dạng tròn và cấu trúc dung dịch rắn của belite được thể hiện ở hình 1. 2: Khoáng Belite [3] + Celite: 2CaO.(1-p)Fe 2O3 gọi là khoáng alumo-ferit- canxi [2]: là dung dịch rắn gồm C 8A3F, C 6A2F, C4AF, chứa một phần C3A và những thành phần HV: Nguyễn Thị Ký 13 Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS. TS Tạ Ngọc Dũng khoáng khác như C2F, MgO. Và trong clanhke xi măng poóc lăng xem celite tồn tại dưới dạng C 4AF và chiếm từ 10 ÷ 18%.
Celite là khoáng đóng rắn tương đối chậm, cho cường độ không cao lắm nhưng sản phẩm đóng rắn trong môi trường nước và môi trường ăn mòn sun phát. Celite là khoáng nặng nhất γ = 3,77 g/cm3. + Khoáng aluminat - tricanxi 3CaO.Al2O3 (C3A) [2]: thường tồn tại chủ yếu dưới dạng C 3A, ngoài ra dưới những điều kiện nhất định (nghèo CaO) nó cũng có thể dưới dạng C12 A7 (12CaO. Ngoài ra, trong dung dịch rắn của C 3A cũng có thể chứa 2,5%MgO.
Trong clanhke xi măng poóc lăng, Aluminat - tricanxi chiếm 5 - 15%, là khoáng có tính chất kết dính, có hình dạng tinh thể lập phương, đóng rắn nhanh, tỏa nhiều nhiệt và là khoáng không bền trong môi trường nước và nước khoáng (biển). Để đảm bảo tính chất ổn định của xi măng trong khi sử dụng, có một số thành phần nguyên tố khác cần hạn chế với tỷ lệ nhất định: - MgO tự do < 5 %; - CaO tự do < 1%; - SO 3 < 3,5%. Pha thủy tinh trong clanhke là pha lỏng rất cần thiết trong quá trình nung luyện clanhke (làm cho khoáng có sự kết khối tốt hơn, nhất là thúc đẩy sự hình thành C3S, khoáng quan trọng trong xi măng), khi được làm nguội nhanh, pha lỏng sẽ chuyển thành pha thủy tinh trong clanhke. Nhờ có pha thủy tinh clanhke sẽ dễ nghiền hơn, hoạt tính pha thủy tinh rất cao dễ hydrat hóa.
- Thành phần hóa trong clanhke xi măng poóc lăng bao gồm các cấu tử chính: - CaO: 62 – 69%, - SiO2: 20 – 24%, - Al2O3 : 4 – 7%, - Fe2O3 : 2 – 5%. HV: Nguyễn Thị Ký 14 Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS. TS Tạ Ngọc Dũng Do nguyên liệu dùng trong công nghệ xi măng poóc lăng là những nguyên liệu tự nhiên, nên trong thành phần clanhke luôn có những tạp chất. Để đảm bảo tính chất cần thiết của xi măng, các ôxít tạp chất phải nằm trong giới hạn cho phép: - MgO ≤ 5% , - TiO2 ≤ 0,3 %, - Mn2O3 ≤ 1,5 %, - R2O ≤ 1,5 % (tính theo Na2O), - SO3:0,1 – 1,5%, - P2O5: 0 – 1,5%.
- Thạch cao: Thạch cao có công thức hóa CaSO 4.2H2O dạng tự nhiên có màu trắng, khi lẫn tạp chất có màu xám hơi đen, khối lượng thể tích 2. Đá thạch cao mềm, dễ nghiền. Ở nhiệt độ từ 45 0C trở lên có phản ứng tách nước, lên tới 120 ÷ 1400C thạch cao tách hoàn toàn nước để trở thành dạng khan theo phản ứng [4]: CaSO4.2H2O 120 → CaSO4 + 2H2O 0 −140 C Thạch cao chiếm khoảng (3÷5%) khối lượng xi măng Poóc lăng, là phụ gia làm giảm tốc độ đóng rắn không thể thiếu trong công nghệ sản xuất xi măng Poóc lăng. Thạch cao hòa tan trong nước, kết hợp với các aluminat trong dung dịch từ khoáng C3A tạo hợp chất hydro–sunfo–aluminat 3CaO.31H2O khó hòa tan làm chậm quá trình đóng rắn của xi măng poóc lăng, nên lượng thạch cao dùng làm phụ gia (3÷5%) chủ yếu phụ thuộc hàm lượng khoáng C3A.
Ngoài ra, etringhit kết tinh dạng sợi, có thể tích lớn chèn lắp lỗ trống của đá xi măng nên thạch cao còn có tác dụng tăng độ bền cơ, chống thấm và dãn nở cho xi măng.2 Xỉ lò cao:[5] Xỉ lò cao là phế liệu của ngành sản xuất gang. Vì trong quặng để sản xuất gang có chứa nhiều tạp chất: cát, đất sét,…và người ta cho thêm đá vôi để các thành phần này sẽ tác dụng với nhau tạo thành các hợp chất nóng chảy hoàn toàn gồm silicat canxi, silicat alumin và silicat aluminate canxi magie ở nhiệt độ 1300- HV: Nguyễn Thị Ký 15 Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS. TS Tạ Ngọc Dũng 1500 oC. Khối lượng riêng của các chất nóng chảy này nhỏ hơn so với gang nên nổi lên trên và được tháo ra ngoài tạo thành xỉ.
3: Xỉ Xỉ được làm lạnh bằng hai cách, một là xỉ nấu chảy được đổ xuống bể có dòng chảy nước liên tục sau đó đưa xỉ qua máy sấy để lượng nước trong xỉ <30%, hai là tháo xỉ vào bể chứa rồi dùng bơm cao áp phun xỉ lên thành tia và bắn tia nước vào xỉ. Ngoài ra, có cách xử lý khác gọi là quy trình đóng viên. Xỉ được làm lạnh từng phần bằng nước sau đó chuyển đén thiết bị trống quay. Kết quả tạo ra các viên có kích thước nhỏ hơn 15mm.
thành phần pha thủy tinh giảm khi kích thước viên tăng. Phương pháp tạo viên có nhiều thuận lợi cho nhà sản xuất thép, giảm phát thải khí sulfua, tạo sản phẩm khô hơn có thể làm cốt liệu cho sản xuất bê tông nhẹ, nhưng hàm lượng pha thủy tinh giảm 50% không có lợi cho sản xuất cho xi măng hỗn hợp Xỉ dùng trong xi măng được làm lạnh rất nhanh. Thành phần chủ yếu là pha thủy tinh, có khả năng hoạt hóa cao, có khả năng hydrat hóa, đóng rắn và cho cường độ nhưng không cao. Thành phần hóa học của xỉ phụ thuộc vào thành phần của nguyên liệu sử dụng.
Thành phần khoáng của xỉ lò cao phụ thuộc vào tốc độ làm lạnh của xỉ. Nếu làm lạnh nhanh các khoáng trong xỉ sẽ kết tinh dạng tinh thể nhỏ, hàm lượng pha thủy tinh chiếm khoảng 95% có hoạt tính cao và có tính kết dính lớn. HV: Nguyễn Thị Ký 16 Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS. TS Tạ Ngọc Dũng Nếu làm lạnh chậm sẽ có các khoáng aluminat canxi CA, C5A3; C2AS, CAS2, C2MS 2, α, β C2 S, C3S2, CMS, MA, CM, M2S.
Tuy nhiên các khoáng trên kết tinh lớn chiếm hàm lượng 90% và pha thủy tinh chiếm 10%, ngoài ra chỉ có β C2S, các khoáng aluminat canxi CA, C5A3 là có tính kết dính nên cường độ của xỉ không cao. Trong xỉ có một số khoáng vật có khả năng rắn chắc như chất kết dính thủy lực cùng một lượng SiO2 chưa kết tính và Al2O 3 nhất định. Khi pha trộn với xi măng phần SiO2chưa kết tinh và Al2O3 sẽ thực hiện phản ứng puzolanic để tạo sản phẩm đóng rắn cùng với các thành phần đóng rắn khác từ các khoáng vật tạo thể rắn chắc cho chất kết dính hỗn hợp của của xi măng poóc lăng và xỉ. Xỉ được dùng với hàm lượng lớn hơn so với pu zơ lan để đạt được các đặc tính tương tự.6H2O Các sản phẩm thủy hóa tạo được theo các phương trình trên đã làm tăng tỷ lệ rắn/lỏng trong hệ và tạo cho bê tông có cường độ dài ngày cao hơn so với bê tông không có phụ gia.
Xỉ lò cao được phân thành 2 loại: xỉ kiềm và xỉ axit. Để đặc trưng cho tính chất xỉ dùng modul thủy lực (Mo): Mo=%(CaO+MgO)/%(SiO2+ Al 2O 3) với: Mo>1: gọi là xỉ kiềm; Mo<1: gọi là xỉ axit. HV: Nguyễn Thị Ký 17 Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS. TS Tạ Ngọc Dũng Ngoài ra còn sử dụng modul hoạt tính Ma = % Al2O3 / % SiO2 và khi Ma tăng thì độ hoạt tính của xỉ tăng và ngược lại.
Quá trình đóng rắn xi măng, ăn mòn bê tông xi măng và biện pháp chống ăn mòn bê tông 1.