Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong ngành công nghiệp ô tô toàn cầu, sản lượng xe sản xuất năm 2008 đã vượt trên 70 triệu chiếc. Trước đó vào năm 2007, trong tổng số 71,9 triệu xe mới được bán ra, thị trường Châu Âu chiếm 22,9 triệu chiếc, Châu Á - Thái Bình Dương chiếm 21,4 triệu chiếc, Mỹ và Canada đạt 19,4 triệu chiếc, Châu Mỹ Latinh là 4,4 triệu chiếc, Trung Đông 2,4 triệu chiếc và Châu Phi 1,4 triệu chiếc. Tại Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chiến lược phát triển ngành công nghiệp ô tô đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035; phần lớn phương tiện trong nước vẫn phụ thuộc vào việc nhập khẩu nguyên chiếc hoặc lắp ráp linh kiện rời.

Vấn đề kỹ thuật được đặt ra là sự ổn định của tốc độ cầm chừng (tốc độ không tải) trên động cơ đốt trong. Khi các phụ tải lớn như hệ thống điều hòa không khí (máy nén lạnh) hoạt động hoặc khi động cơ khởi động lạnh, nếu hệ thống điều khiển cầm chừng nguyên bản gặp trục trặc, động cơ dễ bị rung giật, sụt áp dầu bôi trơn, kẹt cơ khí hoặc chết máy. Nhóm tác giả thực hiện đề tài nhằm nghiên cứu, chế tạo một bo mạch độc lập có chức năng giả lập và điều khiển hệ thống bù tải (tốc độ cầm chừng) sử dụng mô-tơ bước, phục vụ công tác nghiên cứu khoa học và thay thế tạm thời khi hệ thống điều khiển cầm chừng trên xe bị hư hỏng.

Nhiệm vụ nghiên cứu của đồ án được văn bản phân định thành 4 nội dung cụ thể:

  1. Phân tích tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến điều khiển bù tải và động cơ bước.
  2. Tìm hiểu cơ sở lý thuyết về hệ thống điều khiển bù tải (tốc độ cầm chừng) trên động cơ đốt trong.
  3. Thiết kế và thi công mạch điều khiển phần cứng dựa trên vi điều khiển.
  4. Thực nghiệm hệ thống điều khiển trên dòng xe Fiat Siena.

Đối tượng nghiên cứu là các yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ cầm chừng của động cơ và phương pháp điều khiển van bù ga bằng mô-tơ bước. Phạm vi không gian của đề tài đặt tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM (Khoa Cơ khí Chế tạo máy - Bộ môn Cơ điện tử phối hợp Bộ môn Điện tử Ôtô thuộc Khoa Cơ khí Động lực), áp dụng thử nghiệm trên dòng xe du lịch Fiat Siena. Phạm vi thời gian thực hiện kéo dài từ ngày 01/03/2015 đến ngày 17/07/2015, bảo vệ ngày 27/07/2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết của đồ án tập trung vào hệ thống điều khiển tốc độ không tải (Idle Speed Control - ISC). Tốc độ cầm chừng là tốc độ quay của trục khuỷu khi động cơ chạy không tải, tách biệt khỏi hệ thống truyền lực và bàn đạp ga. Ở trạng thái này, động cơ chỉ sinh công vừa đủ để duy trì hoạt động của các thiết bị phụ (bơm nước làm mát, máy phát điện, trợ lực lái). Tốc độ cầm chừng tiêu chuẩn của xe du lịch dao động từ 600 đến 1000 vòng/phút (rpm); xe tải và xe buýt vào khoảng 540 rpm; xe máy 1 xi-lanh từ 1200 đến 1500 rpm. Nhiệt độ nước làm mát tối ưu cho chế độ cầm chừng ổn định là 80°C - 90°C (176°F).

Hệ thống ISC sử dụng van điều chỉnh tốc độ không tải (ISCV). Văn bản phân loại van ISCV thành 2 nhóm: loại đi tắt qua bướm ga (đường gió phụ bypass) và loại điều khiển lượng khí nạp trực tiếp qua bướm ga điện tử thông minh (ETCS-i). Về kết cấu cơ cấu chấp hành, đồ án phân tích hai dạng van: loại cuộn dây quay (rotary solenoid - sử dụng một hoặc hai cuộn dây A/B đóng mở theo tỷ lệ hiệu dụng xung) và loại mô-tơ bước (stepper motor 4 dây hoặc 6 dây, dịch chuyển lõi van tịnh tiến để thay đổi tiết diện đường gió phụ với 24 hoặc 32 bước trong một vòng quay roto nam châm vĩnh cửu).

Quy trình điều khiển cầm chừng gồm các giai đoạn:

  • Điều khiển khởi động: Van ISC mở hoàn toàn để tăng lượng khí nạp, cải thiện khả năng nổ máy.
  • Điều khiển hâm nóng (chạy không tải nhanh): ECU điều khiển van mở rộng khi nhiệt độ nước làm mát thấp nhằm khắc phục độ nhớt dầu bôi trơn cao và độ tơi nhiên liệu kém; sau đó van đóng dần khi nhiệt độ tăng.
  • Điều khiển phản hồi và dự tính: So sánh tốc độ thực tế với tốc độ chuẩn được lưu trữ để hiệu chỉnh; đồng thời bù ga đón đầu khi phát hiện tín hiệu tải từ rơ-le điều hòa (A/C switch), công tắc đèn pha, chuyển số N - D hoặc hệ thống trợ lực lái điện - thủy lực (EHPS).

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và thu thập số liệu bao gồm:

  • Phương pháp thực nghiệm đo đạc cảm biến nhiệt độ: Sử dụng can nhiệt loại K kết hợp bộ điều khiển nhiệt độ công nghiệp CHB401 (hãng Chipon) và vôn kế số để đo đạc giá trị điện áp đầu ra từ cảm biến nhiệt trở NTC của xe. Dữ liệu thực nghiệm được xử lý bằng phương pháp tính dạng hàm bậc hai và thuật toán nội suy số trị (Lagrange hoặc Newton).
  • Phương pháp đo lường tốc độ vòng tua động cơ: Khảo sát phương pháp trích xung đánh lửa (lọc nhiễu qua IC khuếch đại thuật toán LM324) và phương pháp đo quang học gián tiếp (dùng cảm biến quang thu phát chung E3F3-D11 2M chiếu vào puli máy phát có đánh dấu vạch phản quang, tính toán quy đổi theo tỷ số truyền đường kính đai).
  • Phương pháp thiết kế hệ thống nhúng: Thiết kế mạch in, phối ghép vi điều khiển PIC16F887 với các khối công suất điều khiển cuộn dây mô-tơ bước, lập trình giải thuật trên môi trường MPLAB X IDE bằng trình biên dịch HI-TECH C.

Thiết kế và triển khai hệ thống điều khiển

Mạch điều khiển được thiết kế theo cấu trúc hệ thống nhúng chuyên dụng, tiếp nhận 3 tín hiệu đầu vào chính để xử lý và điều khiển cơ cấu chấp hành:

Khối chức năng Linh kiện / Thiết bị chính Thông số kỹ thuật ghi nhận trong văn bản Chức năng kỹ thuật
Khối xử lý trung tâm Vi điều khiển PIC16F887 (Microchip) Kiến trúc RISC 35 lệnh 14-bit; xung nhịp tối đa 20MHz (chu kỳ lệnh 200ns); bộ nhớ Flash 8K x 14-bit; RAM 368 byte; EEPROM 256 byte; 33 chân I/O trên 5 Port (A, B, C, D, E); 14 kênh ADC 10-bit; Timer 0/1/2; 2 bộ CCP/PWM. Tiếp nhận tín hiệu cảm biến, tính toán thuật toán điều khiển và xuất chuỗi xung kích mô-tơ bước.
Khối đọc tín hiệu tốc độ IC Op-Amp LM324 hoặc cảm biến quang E3F3-D11 2M LM324: 4 bộ khuếch đại thuật toán tích hợp, nguồn cấp 5V - 32V (nguồn đơn) hoặc ±15V (nguồn đôi), dòng sink 20mA, dòng source 40mA, tần số 1MHz, độ lợi 100dB. Cảm biến E3F3-D11 2M: chuẩn M18, nguồn cấp 12 - 24VDC, ngõ ra NPN-NO, thời gian đáp ứng 1ms, nhiệt độ -25°C đến 55°C. Đo tần số xung đánh lửa hoặc đếm xung phản xạ từ vạch sơn trên puli máy phát để tính tốc độ động cơ.
Khối chuẩn hóa nhiệt độ Can nhiệt loại K và bộ hiển thị CHB401 (Chipon) Can nhiệt K: đầu dò phi 4mm, dài 30mm, dây dẫn 70cm, dải đo -200°C đến 500°C; tại 10°C có điện trở $R_{PT} = 107{,}6,\Omega$ (tăng 1°C điện trở tăng ~0,4$\Omega$). Bộ CHB401: nguồn cấp 180 - 240VAC 50Hz, công suất $\le 5\text{W}$, cấp chính xác 0.5. Thiết lập đường đặc tính điện áp - nhiệt độ của cảm biến nước làm mát trên xe.
Khối nhận biết phụ tải A/C Transistor PNP và tiếp điểm rơ-le điều hòa Nhận tín hiệu đóng ngắt mạch điện 12V từ cuộn dây rơ-le máy nén lạnh A/C. Chuyển đổi trạng thái đóng ngắt thành mức logic 0V/5V cấp vào chân vi điều khiển.
Khối công suất chấp hành Mạch kích công suất và mô-tơ bước 4 dây / 6 dây Mô-tơ bước kiểu van ISCV với 24 hoặc 32 bước trong một vòng quay; cấp điện lần lượt cho 4 cuộn từ trường (C1, C2, C3, C4). Tịnh tiến trục van đóng/mở đường gió bypass để tăng/giảm lưu lượng khí nạp cầm chừng.
Giao tiếp máy tính Khối xuất tín hiệu chuẩn UART Giao tiếp nối tiếp với máy tính (PC) phục vụ hiển thị dữ liệu giám sát. Truyền nhận dữ liệu tốc độ và nhiệt độ phục vụ kiểm tra vận hành.

Giải thuật điều khiển vận hành theo quy trình logic:

  • Bật công tắc máy: Vi điều khiển kích hoạt mô-tơ bước mở van cầm chừng ở vị trí cực đại để nạp lượng khí khởi động.
  • Đề máy nổ: Vi điều khiển nạp tín hiệu tốc độ trục khuỷu thông qua tần số đánh lửa (hoặc xung cảm biến quang) và nạp tín hiệu điện áp từ cảm biến nhiệt độ nước làm mát.
  • Chuyển đổi giá trị: Điện áp nhiệt độ được xử lý qua hàm số để quy đổi ra nhiệt độ thực tế. Khi nhiệt độ dưới 80°C, hệ thống thực hiện chế độ chạy không tải nhanh.
  • Quét tải điều hòa: Đọc trạng thái tín hiệu A/C switch; nếu hệ thống điều hòa bật, vi điều khiển phát lệnh dịch chuyển mô-tơ bước mở thêm đường gió để giữ vòng tua máy ở mức bù tải mục tiêu (xấp xỉ 1000 rpm). Khi vòng tua tụt dưới 500 rpm, hệ thống phát tín hiệu ngắt ly hợp máy nén để chống chết máy.
  • Tắt máy: Rơ-le chính duy trì nguồn điện tạm thời cho ECU/vi điều khiển để đưa van ISCV về lại trạng thái mở hoàn toàn trước khi ngắt hẳn nguồn điện.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Tổng quan

Chương 1 giới thiệu khái quát về ngành công nghiệp sản xuất và thương mại ô tô trên thế giới giai đoạn 2007 - 2008 cùng định hướng chiến lược công nghiệp hóa ô tô tại Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn 2035. Tác giả chỉ ra tính chất phức tạp của hệ thống điều khiển điện tử trên ô tô hiện đại, đồng thời xác lập đối tượng nghiên cứu là hệ thống điều khiển tốc độ cầm chừng sử dụng mô-tơ bước. Phân tích tình hình nghiên cứu ghi nhận các tài liệu trong và ngoài nước chủ yếu tập trung vào mạch điều khiển mô-tơ bước tổng quát, thiếu các nghiên cứu ứng dụng cụ thể vào việc bù tải ô tô. Tác giả cũng nêu rõ hạn chế về kiến thức chuyên ngành ô tô và biến động nhân sự (một thành viên rút khỏi nhóm vào giai đoạn cuối), khiến sản phẩm của đồ án dừng lại ở quy mô nghiên cứu khoa học trong phòng thí nghiệm.

Chương II: Cơ sở lí thuyết

Chương 2 trình bày chi tiết định nghĩa và đặc tính của tốc độ cầm chừng trên động cơ đốt trong. Nội dung phân tích các dải tốc độ tiêu chuẩn theo từng dòng phương tiện, tác động của nhiệt độ nước làm mát, áp suất dầu bôi trơn và các phụ tải điện/cơ khí đối với chế độ chạy không tải. Tác giả mô tả cấu tạo, nguyên lý làm việc của van điều khiển tốc độ không tải (ISCV), so sánh van kiểu cuộn dây quay (loại 1 cuộn dây điều khiển PWM và loại 2 cuộn dây A/B) với van kiểu mô-tơ bước 4 dây hoặc 6 dây. Các chế độ điều khiển cầm chừng được hệ thống hóa gồm: chế độ khởi động, chế độ hâm nóng động cơ, điều khiển phản hồi vòng kín khi nước làm mát đạt 80°C (176°F), điều khiển dự tính theo tải trọng (chuyển số, bật đèn pha, bật rơ-le sấy kính, kích hoạt bơm trợ lực lái EHPS) và cơ chế rơ-le chính duy trì nguồn để mở van khi tắt khóa điện.

Chương III: Khảo sát và mô phỏng hệ thống điều khiển bù ga

Chương 3 xây dựng sơ đồ khối chi tiết của mạch điều khiển với 3 cổng nhận tín hiệu (Nhiệt độ, Tốc độ, A/C switch), khối vi điều khiển trung tâm, khối công suất mô-tơ bước và cổng UART kết nối máy tính.

  • Khảo sát cảm biến nhiệt độ nước làm mát (ECT): Tác giả phân tích đặc tính cảm biến nhiệt trở hệ số nhiệt điện trở âm (NTC). Cảm biến trên xe GM có giá trị khoảng 10.000 $\Omega$ tại 32°F và giảm xuống dưới 200 $\Omega$ tại 200°F; cảm biến xe Ford có giá trị 95.000 $\Omega$ tại 32°F. Thí nghiệm đo đạc thực tế sử dụng can nhiệt K và bộ CHB401 ghi nhận tại 28°C điện áp cảm biến đạt 1,32V. Dạng hàm bậc hai xấp xỉ được thiết lập là: $$\text{Nhiệt độ} = 120{,}00201 \times V^2$$ (với Nhiệt độ tính bằng °C và $V$ tính bằng Volt).
  • Khảo sát phương pháp đo tốc độ: Đề xuất phương pháp trích xung đánh lửa trực tiếp từ đường dây giữa ECU và IC đánh lửa (hệ thống DIS hoặc ECA) qua mạch lọc Op-Amp LM324. Đồng thời, đề xuất phương pháp đo quang bằng cảm biến E3F3-D11 2M chiếu vào puli máy phát có sơn phản quang ở khoảng cách 3 - 5 cm. Với tốc độ tối đa của puli là 4000 rpm (xấp xỉ 67 vòng/giây hay 0,067 vòng/mili-giây), thời gian đáp ứng 1ms của cảm biến đáp ứng hoàn toàn yêu cầu đọc xung. Tốc độ động cơ được tính qua công thức: $$N_{\text{động cơ}} = N_{\text{máy phát}} \times \frac{R_{\text{máy phát}}}{R_{\text{động cơ}}}$$
  • Tín hiệu A/C switch: Phân tích cơ chế tiêu hao công suất của máy nén lạnh (chất làm lạnh R12 hoặc R134a/Freon). Đồ án phân tích mã lỗi số 33 khi mạch điện A/C hở hoặc không đạt 12V, cơ chế bù ga lên 1000 rpm khi bật A/C và cơ chế ngắt ly hợp máy nén khi tốc độ xuống dưới 500 rpm.
  • Khối xử lý trung tâm: Khảo sát kiến trúc vi điều khiển PIC16F887, tập lệnh 35 lệnh, dung lượng bộ nhớ, các bộ định thời Timer 0/1/2, khối ngắt On-Change chân Port B và thiết lập lưu đồ giải thuật điều khiển toàn hệ thống.

Chương IV: Thiết kế thi công mạch điều khiển

Chương 4 thuyết minh giải pháp thiết kế và thi công phần cứng các khối mạch chức năng:

  • Khối nguồn nuôi: Cung cấp mức điện áp ổn định cho vi điều khiển và mạch công suất.
  • Khối đọc tín hiệu A/C switch: Mạch đệm sử dụng transistor PNP để trích xuất tín hiệu đóng ngắt từ rơ-le máy lạnh đưa về vi điều khiển.
  • Khối đọc tín hiệu tốc độ: Mạch tiền xử lý và lọc nhiễu xung đánh lửa từ động cơ (hoặc tín hiệu xung từ cảm biến quang).
  • Khối xuất UART và tín hiệu nhiệt độ: Mạch giao tiếp chuyển đổi tín hiệu cảm biến nhiệt độ vào kênh ADC và khối truyền thông UART kết nối máy tính.
  • Khối công suất điều khiển động cơ bước: Mạch điều khiển đóng cắt theo chuỗi pha cho các cuộn dây của mô-tơ bước.
  • Khối xử lý trung tâm: Bố trí chân kết nối ngoại vi cho vi điều khiển PIC16F887.

Chương V: Kết luận và đề nghị

Chương 5 tổng kết toàn bộ nội dung đã nghiên cứu và các hạng mục đã hoàn thành trong luận văn; khẳng định việc xây dựng thành công mô hình mạch phần cứng điều khiển van bù ga sử dụng vi điều khiển PIC16F887. Tác giả trình bày những hạn chế khách quan trong quá trình làm việc và đề xuất hướng phát triển tiếp theo của đề tài.

Kết quả và đóng góp

Đồ án ghi nhận các kết quả kỹ thuật và số liệu thực nghiệm cụ thể:

  • Xác lập cơ sở dữ liệu vận hành cầm chừng: Dải tốc độ không tải xe du lịch đạt từ 600 đến 1000 rpm; tốc độ bù tải khi đóng ly hợp điều hòa là ~1000 rpm; ngưỡng bảo vệ tự ngắt ly hợp A/C khi tốc độ động cơ giảm dưới 500 rpm; ngưỡng nhiệt độ kích hoạt điều khiển phản hồi ổn định là 80°C (176°F).
  • Kết quả khảo sát thực nghiệm cảm biến nhiệt độ: Thu thập số liệu đo đạc tại 28°C ứng với mức điện áp 1,32V; thiết lập công thức chuyển đổi thực nghiệm $\text{Nhiệt độ} = 120{,}00201 \times V^2$ tích hợp vào thuật toán vi điều khiển.
  • Thông số hóa phương pháp đo tốc độ bằng cảm biến quang: Xác định tốc độ cực đại của puli máy phát là 4000 rpm (tương đương 67 vòng/giây), khoảng cách lắp đặt cảm biến tối ưu từ 3 đến 5 cm, thời gian đáp ứng tín hiệu đạt 1ms với cảm biến E3F3-D11 2M.
  • Chế tạo phần cứng điều khiển nhúng: Thiết kế và thi công hoàn chỉnh bo mạch điều khiển tích hợp vi điều khiển PIC16F887 (tần số tối đa 20MHz, 35 lệnh, bộ nhớ Flash 8K x 14-bit, 14 kênh ADC 10-bit), mạch công suất điều khiển mô-tơ bước 4 cuộn dây, khối đệm nhận tín hiệu A/C switch và cổng truyền thông UART.

Về giải pháp kỹ thuật, tác giả đề xuất:

  • Giải pháp trích tín hiệu đánh lửa qua mạch lọc Op-Amp LM324 hoặc đo gián tiếp qua vạch phản xạ trên puli máy phát nhằm hạn chế việc can thiệp cơ khí sâu vào kết cấu nguyên bản của xe.
  • Ứng dụng thuật toán nội suy số trị (Lagrange hoặc Newton) kết hợp hàm toán học bậc hai để chuyển đổi trực tiếp điện áp đọc từ kênh ADC thành thông số nhiệt độ nước làm mát.
  • Giải pháp sử dụng transistor PNP kết nối cuộn dây rơ-le máy nén để giám sát chính xác thời điểm bật/tắt của hệ thống điều hòa không khí.

Đóng góp của đồ án là đã chế tạo một bo mạch nhúng độc lập sử dụng linh kiện phổ thông, có khả năng giả lập và thay thế chức năng bù ga cầm chừng của ECU nguyên bản khi gặp sự cố, tạo mô hình phần cứng trực quan phục vụ công tác nghiên cứu khoa học và học tập chuyên ngành Cơ điện tử Ô tô.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Văn bản nêu rõ các hạn chế tồn tại của đề tài:

  • Sản phẩm bo mạch mới dừng lại ở mức độ phục vụ nghiên cứu khoa học trong phòng thí nghiệm, chưa được thương mại hóa hay ứng dụng đại trà trên các phương tiện ô tô lưu hành thực tế.
  • Kiến thức chuyên ngành ô tô của sinh viên chuyên ngành Cơ điện tử còn hạn chế, dẫn đến việc tiếp cận và xử lý các hệ thống điện ô tô chuyên sâu gặp nhiều trở ngại.
  • Quá trình thực hiện chịu biến động nhân sự khi một thành viên rút khỏi nhóm vào giờ chót, khiến khối lượng công việc dồn lại cho một cá nhân, làm cho sản phẩm chưa đạt được trọn vẹn toàn bộ các mục tiêu đề ra ban đầu.
  • Dữ liệu thực nghiệm cảm biến nhiệt độ trong báo cáo còn ít mốc đo (mới thể hiện chi tiết mốc 28°C - 1,32V).

Hướng phát triển tiếp theo được tác giả đề xuất:

  • Tiếp tục tối ưu hóa kết cấu mạch điện và nâng cao khả năng chống nhiễu công nghiệp đối với các xung điện áp cao trong khoang động cơ.
  • Nghiên cứu hoàn thiện thuật toán điều khiển nhằm tăng độ nhạy và tính mượt mà của mô-tơ bước khi chuyển đổi các trạng thái tải.
  • Mở rộng thử nghiệm thực tế trên nhiều dòng xe khác nhau ngoài đối tượng thử nghiệm Fiat Siena.

Giá trị tham khảo

Tài liệu đồ án cung cấp giá trị tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên chuyên ngành Công nghệ Kỹ thuật Cơ điện tử, Công nghệ Kỹ thuật Ô tô và Kỹ thuật Điều khiển - Tự động hóa khi thực hiện các đồ án môn học hoặc khóa luận tốt nghiệp về hệ thống điện - điện tử trên động cơ ô tô.
  • Người nghiên cứu thiết kế mạch nhúng ứng dụng vi điều khiển PIC để điều khiển động cơ bước và xử lý các cảm biến tín hiệu tương tự (Analog) / xung tần số.

Các nội dung có giá trị tham khảo chuyên môn cao bao gồm:

  • Toàn bộ cơ sở lý thuyết về nguyên lý đóng mở và chiến lược điều khiển của các loại van ISCV (van cuộn dây quay và van mô-tơ bước).
  • Sơ đồ nguyên lý các mạch giao tiếp tín hiệu trên ô tô: mạch lọc nhiễu xung đánh lửa dùng IC LM324, mạch giao tiếp công tắc A/C qua transistor PNP, và phương pháp đo vòng tua puli máy phát qua cảm biến quang học E3F3-D11 2M.
  • Cấu hình phần cứng và lưu đồ thuật toán điều khiển van cầm chừng trên vi điều khiển PIC16F887 bằng ngôn ngữ C.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao van bù ga (ISCV) phải được điều khiển mở hoàn toàn khi động cơ tắt máy hoặc chuẩn bị khởi động?
Theo cơ sở lý thuyết của đồ án, khi động cơ tắt máy (ECU không còn nhận được tín hiệu tốc độ NE), rơ-le chính vẫn tiếp tục cấp nguồn cho ECU trong một khoảng thời gian ngắn để điều khiển van ISCV quay về vị trí mở hoàn toàn. Việc này nhằm cung cấp lượng không khí tối đa qua đường gió bypass vào buồng nạp, giúp cải thiện khả năng nổ máy cho lần khởi động tiếp theo.

2. Mối quan hệ toán học giữa nhiệt độ nước làm mát và điện áp cảm biến được xây dựng trong đồ án như thế nào?
Tác giả sử dụng can nhiệt loại K và bộ điều khiển nhiệt độ CHB401 để đo đạc thực nghiệm cảm biến nhiệt trở NTC trên xe (ghi nhận mốc 28°C có điện áp 1,32V). Qua phân tích đồ thị dạng hàm, tác giả xác định mối liên hệ này tuân theo phương trình bậc hai: $$\text{Nhiệt độ} = 120{,}00201 \times V^2$$ Hàm số này được nạp vào vi điều khiển PIC16F887 kết hợp thuật toán nội suy số trị Lagrange hoặc Newton để tính toán nhiệt độ tức thời từ điện áp ADC.

3. Tại sao tác giả lựa chọn cảm biến quang thu phát chung để đo tốc độ thay vì loại phản xạ qua gương hay thu phát riêng?
Tác giả phân tích: loại thu phát riêng đòi hỏi phải khoét lỗ trên chi tiết để ánh sáng xuyên qua; loại phản xạ qua gương cần gắn mặt gương lên puli quay với tốc độ cao (lên đến 4000 rpm) dễ gây văng vỡ nguy hiểm hoặc phải dùng sơn phản quang đắt tiền. Do đó, cảm biến quang thu phát chung E3F3-D11 2M là lựa chọn phù hợp nhất vì chỉ cần quét vạch sơn phản quang trên một điểm của puli máy phát, khoảng cách đo 3 - 5 cm, không làm biến đổi kết cấu cơ khí của xe.

4. Khi bật công tắc điều hòa (A/C switch), hệ thống điều khiển bù ga hoạt động như thế nào để tránh động cơ bị chết máy?
Khi bật điều hòa, máy nén làm việc tạo phụ tải lớn kéo vòng tua động cơ sụt giảm. Vi điều khiển nhận biết tín hiệu này thông qua mạch đệm transistor nối với rơ-le máy lạnh, từ đó phát lệnh điều khiển mô-tơ bước mở thêm đường gió bypass để nâng tốc độ cầm chừng lên mức bù tải khoảng 1000 rpm. Nếu tốc độ cầm chừng bị tụt xuống dưới 500 rpm, mô-đun điều khiển sẽ ngắt ly hợp máy nén để tránh hiện tượng khựng hoặc chết máy.

5. Vi điều khiển PIC16F887 đóng vai trò gì và có những đặc tính phần cứng nổi bật nào được ứng dụng trong đồ án?
PIC16F887 đảm nhận vai trò bộ xử lý trung tâm của bo mạch điều khiển. Vi điều khiển này hoạt động ở tần số tối đa 20MHz (chu kỳ lệnh 200ns), sở hữu 35 lệnh 14-bit, bộ nhớ Flash 8K, RAM 368 byte, EEPROM 256 byte và 33 chân I/O. Trong đồ án, nó sử dụng các kênh ADC 10-bit để chuyển đổi điện áp cảm biến nhiệt độ, sử dụng các bộ Timer và ngắt Port B để đo chu kỳ xung tốc độ, và xuất tín hiệu điều khiển trực tiếp mạch công suất mô-tơ bước.

Kết luận

Đồ án tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Xuân Ngọc đã hoàn thành việc khảo sát lý thuyết về hệ thống điều khiển tốc độ không tải (ISC), thiết kế và chế tạo thành công bo mạch phần cứng điều khiển van bù ga sử dụng vi điều khiển PIC16F887 và cơ cấu chấp hành mô-tơ bước. Nghiên cứu đã đề xuất các giải pháp kỹ thuật cụ thể trong việc thu thập tín hiệu nhiệt độ nước làm mát, tốc độ vòng tua động cơ và phụ tải điều hòa không khí phục vụ thực nghiệm trên dòng xe Fiat Siena. Dù còn một số hạn chế khách quan về nhân sự và điều kiện ứng dụng thực tế ngoài thương mại, đồ án đã giải quyết được các nhiệm vụ đặt ra và cung cấp tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cho lĩnh vực Cơ điện tử Ô tô.