Chương 1: TỔNG QUAN 1. Chất phát quang 1. Một số thuật ngữ liên quan đến chất phát quang Phát quang là hiện tượng phát ra ánh sáng của chất sau khi hấp thụ năng lượng bên ngoài. Một photon có năng lượng cao hơn được hấp thụ và một photon có năng lượng thấp hơn được phát xạ, nghĩa là tia sáng được phát ra có bước sóng dài hơn so với tia kích hoạt [1].
Có nhiều nguồn bức xạ kích thích khác nhau. Quang phát quang là sự phát quang do tác dụng của photon ánh sáng. Điện phát quang là phát quang do tác dụng của năng lượng điện, phát quang tia âm cực là dùng tia âm cực hoặc chùm electron có năng lượng đủ lớn để gây ra sự phát quang [1]. Phát quang có thể chia ra 2 loại huỳnh quang và lân quang.
Huỳnh quang: sự phát sáng chỉ kéo dài được 10-8 giây (khoảng 10-9 ÷ 10-3 giây) sau khi ngừng kích thích, tức là dừng lại hẳn ngay sau khi dừng nguồn kích thích. Lân quang: sự phát sáng còn tiếp tục kéo dài thêm một thời gian nữa (thường là từ 10-3 ÷ 100,0 giây) sau khi ngừng kích thích. Lân quang là một dạng phát quang, trong đó các phân tử của chất lân quang hấp thụ ánh sáng, chuyển hóa năng lượng của các photon thành năng lượng của các e ở một số trạng thái lượng tử có mức năng lượng cao nhưng bền trong phân tử để sau đó electron chậm chạp rơi về trạng thái lượng tử ở mức năng lượng thấp hơn và giải phóng một phần năng lượng trở lại ở dạng photon. Lân quang khác với huỳnh quang ở chỗ việc electron trở lại trạng thái cũ kèm theo nhả ra photon rất chậm.
Trong huỳnh quang sự rơi về trạng thái cũ của electron gần như tức thời, photon được giải phóng ngay. Các chất lân quang do đó hoạt động như bộ dự trữ ánh sáng: thu nhận ánh sáng và chậm chạp nhả ánh sáng sau đó [1]. Sự hấp thụ ánh sáng và màu sắc 1. Bức xạ điện từ và ánh sáng Bức xạ điện từ được chia thành các dải theo bước sóng như hình 1.
1 Dải bức xạ điện từ [2] Ánh sáng nhìn thấy nằm trong một vùng phổ với bước sóng từ 0,4 µm đến 0,7 µm. Như vậy chất rắn vô cơ có thể chia thành 2 nhóm: các chất hấp thụ ánh sáng (tạo màu) và các chất phát xạ ánh sáng (chất phát quang và laze trạng thái rắn). Các chất màu dùng cho sơn và các chất phát quang dùng cho màn hình tivi hoặc đèn, … Theo quan điểm cổ điển, bức xạ điện từ là sóng gồm hai thành phần điện trường và từ trường vuông góc với nhau và vuông góc với phương truyền. Ánh sáng và nhiệt (hay là bức xạ năng lượng), sóng rađio, sóng rađa, tia Rơnghen, đều là các dạng bức xạ điện từ [2].
Mỗi một dạng bức xạ điện từ được đặc trưng bởi một phạm vi đặc thù của bước sóng và kỹ thuật tạo ra nó. 2 Sóng điện từ [2] 1. Hấp thụ, phản xạ và truyền qua [2, 3] Theo thuyết lượng tử, khi chùm photon chiếu vào một chất rắn, sẽ diễn ra sự tương tác. Theo nguyên lý tán xạ bức xạ điện từ của Huygen, khi các photon đến gần tiếp xúc với một chất rắn, các vectơ điện trường và từ trường của các photon tới cặp đôi với các vectơ điện trường và từ trường của các electron trong các nguyên tử của chất rắn.
Cơ chế này được minh họa ở hình 1.3 như sau: 10 R - bức xạ được phản xạ; A - bức xạ được hấp thụ; T - bức xạ được truyền qua ; S - bức xạ được tán xạ. 3 Cơ chế tương tác của photon với chất rắn [2] Một phần cường độ ban đầu Io được hấp thụ, phần khác được truyền qua, phần khác được tán xạ và một phần khác nữa được phản xạ. Các thành phần S và T không phụ thuộc vào bước sóng của photon tới; trong khi R và A chủ yếu phụ thuộc vào bước sóng. Chất phát quang vô cơ Chất phát quang vô cơ là các chất được chế tạo từ các hợp chất vô cơ dạng tinh thể, có khả năng phát ra ánh sáng sau khi hấp thụ năng lượng.
Năng lượng bức xạ của chất phát quang nhỏ hơn năng lượng kích thích, nghĩa là sự phát sáng của chất rắn chuyển dịch về phía có bước sóng dài hơn so với tia kích thích [4]. Cấu tạo Vật liệu phát quang vô cơ loại có pha tạp hầu hết thường gồm chất nền và chất kích hoạt. Chất nền chiếm thành phần chủ yếu trong vật liệu, chất kích hoạt chiếm một lượng rất nhỏ [3]. - Chất nền là những chất có vùng cấm rộng, có tính trong suốt đối với bức xạ trong vùng ánh sáng nhìn thấy và vùng bức xạ kích thích của các tâm phát quang.
Chất làm nền, ngoài tính trơ về quang học còn cần có độ bền về cơ lý hóa, ổn định về cấu trúc và có khả năng đính các nguyên tử pha tạp trong nút mạng. Các chất nền thông thường là các oxit, sunfua, silicat, aluminat, borat, photphat, vanadat và tungstat, chẳng hạn như Y2O3, ZnS, Zn2SiO4, Y3Al5O12, LaPO4, YVO4, CaWO4 [5]. - Chất kích hoạt thường là cation của các nguyên tố chuyển tiếp Mn, Bi, Cu, Ag, … hoặc các nguyên tố đất hiếm như Tb, Eu, Ce, … Đặc điểm của các ion này là có nhiều các obitan trống, đó là các vị trí để electron nhảy lên khi bị kích thích và sau đó trở về trạng thái năng lượng thấp hơn kèm theo phát xạ [1]. 11 Yêu cầu chung của chất nền và chất kích hoạt như sau: - Cation chất kích hoạt và cation chất nền cần phải phù hợp về kích thước (bán kính ion) để thu được chất phát quang có cường độ phát quang cao nhất.
Nếu kích thước của 2 cation này không khớp nhau sẽ làm biến dạng mạng lưới và hạn chế khả năng của chất kích hoạt đi vào trong mạng chất nền. Chất kích hoạt thường có trạng thái oxi hóa tương tự các cation chất nền để chúng có thể đi vào mạng lưới chất nền dưới dạng tạp chất thay thế, tạp chất lỗ trống hay xâm nhập [4]. - Ngoài ra, vật liệu phát quang còn có thể bổ sung thêm một lượng chất phụ gia thứ hai gọi là chất tăng nhạy. Chất phát quang được ký hiệu: MnYOb:Nx, trong đó MnYOb: chất nền (M: cation, YOb: anion); N: chất kích hoạt.
Đặc tính phát quang của vật liệu phụ thuộc chủ yếu vào tính chất của vật liệu nền và chất kích hoạt, sự tác động qua lại giữa chúng sẽ quyết định hiệu quả phát quang. Chất nền đóng vai trò làm cấu trúc tinh thể chủ, chất kích hoạt có thể đi vào các vị trí khuyết tật bên trong cấu trúc đó như khuyết tật xâm nhập, khuyết tật thay thế,. Các cation chất kích hoạt thay thế một phần các cation của chất nền trong mạng tinh thể, khi đó chất phát quang được biểu diễn bằng công thức M(n – x)NxYOb. Một dạng khuyết tật thường gặp trong mạng tinh thể được thể hiện ở hình 1.
4 Một số dạng khuyết tật thường gặp trong mạng tinh thể [7] 1. Ứng dụng Các chất phát quang vô cơ được sử dụng trong rất nhiều lĩnh vực: - Đèn huỳnh quang [8], bảng hiển thị plasma ống tia catot [8-10], … - Chế tạo các màn hình điện tử, thiết bị bức xạ điện tử [8, 10], … - Chất màu trong các loại sơn [8], … - Mực in bảo mật mã vạch, thẻ tín dụng, hóa đơn [8],… - Các thiết bị diệt khuẩn y tế, sinh học sử dụng bức xạ [11],… 12 1. Cơ chế phát quang Khi chiếu nguồn bức xạ kích thích vào chất phát quang thì xảy ra các quá trình biến đổi năng lượng (hình 1. 5 Sơ đồ mức năng lượng của chất phát quang [5] Chuỗi quá trình này bao gồm: - Quá trình hấp thụ năng lượng (từ nguồn năng lượng).
- Quá trình kích thích bên trong tâm hoạt tính để chuyển lên trạng thái kích thích. - Quá trình nghỉ của trạng thái kích thích (ở đây năng lượng bị mất cho trạng thái dao động của mạng tinh thể). - Quá trình phát xạ photon có năng lượng thấp hơn từ trạng thái kích thích, và quá trình nghỉ trở về trạng thái cơ bản (trạng thái nền). Trong chất phát quang, quá trình hấp thụ năng lượng có thể xảy ra trong chất nền hoặc trực tiếp trong tâm hoạt hóa.
Tâm hoạt hóa hấp thụ năng lượng và thay đổi trạng thái năng lượng điện tử của nó từ trạng thái cơ bản lên trạng thái kích thích [3, 4, 5]. Theo giản đồ mức năng lượng của chất phát quang rắn ở hình 1.5, sự phát xạ có thể xảy ra trong quá trình chuyển hóa giữa 2 trạng thái năng lượng của chất kích hoạt, hoặc giữa vùng dẫn và một trạng thái năng lượng của chất kích hoạt. Điện tử có thể bị kích thích nhiệt chuyển từ bẫy lên vùng dẫn. Trạng thái năng lượng của chất kích hoạt là trạng thái mà điện tử có thể dễ dàng đi vào và đi ra.
Nói cách khác, điện tử có thể tái hợp trực tiếp, bằng cách quay trở về vùng dẫn.5 thể hiện hai khả năng tái hợp của điện tử: - Khả năng thứ nhất: điện tử chuyển lên trạng thái kích thích của chất kích hoạt, và phát xạ bằng cách chuyển về trạng thái cơ bản của chất kích hoạt. 13 - Khả năng thứ hai: điện tử bị giữ lại trong các bẫy nằm trong các mức năng lượng không cho phép các chuyển hóa liên quan đến phát xạ. Sau đó, điện tử được kích thích nhiệt chuyển lên vùng dẫn, và cuối cùng phát xạ bằng cách chuyển về mức năng lượng của chất kích hoạt.6 minh họa thêm về cơ chế phát bức xạ của chất phát quang vô cơ trong trường hợp có thêm chất tăng nhạy [4, 12]. 6 Cơ chế phát quang có chất tăng nhạy [4] a) mạng tinh thể nền H, chất kích hoạt A b) Mạng tinh thể nền H, chất kích hoạt A và chất tăng nhạy S Sự chuyển năng lượng không bức xạ trong chất phát quang có chứa chất tăng nhạy xảy ra khi có các điều kiện sau: - Mức năng lượng của chất kích hoạt và chất tăng nhạy ở trạng thái kích thích gần nhau.
- Ion kích hoạt và ion tăng nhạy chiếm vị trí gần nhau trong mạng lưới tinh thể nền. Dưới tác dụng của nguồn kích thích, các ion chất tăng nhạy nhảy lên trạng thái kích thích và sau đó sẽ chuyển năng lượng cho ion kích hoạt bên cạnh. Lúc này, quá trình chuyển không xảy ra sự mất năng lượng (hoặc chỉ mất một phần năng lượng), còn ion của chất tăng nhạy lại chuyển về trạng thái cơ bản. Cuối cùng ion kích hoạt chuyển sang trạng thái cơ bản và phát ra ánh sáng [1].