Chương 1: Giới thiệu chung về nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị 5 CHƢƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan về chất lƣợng tín dụng và các nhân tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng tín dụng 2. Khái niệm tín dụng ngân hàng Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, tổ chức tín dụng (TCTD) với cá nhân, tổ chức có nhu cầu vay tiền.
Khi đó, bên cho vay sẽ chuyển giao tài sản cho bên vay trong một khoảng thời gian theo thoả thuận được cam kết trong hợp đồng. Các cá nhân, doanh nghiệp vay cần cần thanh toán đủ gốc, lãi khi đến thời hạn. Với tư cách là người đi vay, ngân hàng nhận tiền gửi của các chủ thể khác trong nền kinh tế hoặc phát hành các chứng chỉ tiền gửi: kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng để huy động vốn. Còn với tư cách là người cho vay, ngân hàng cấp tín dụng cho các chủ thể khác trong nền kinh tế bằng việc thiết lập các hợp đồng tín dụng, sổ vay vốn,… từ đó, góp phần tích cực thúc đẩy sản xuất lưu thông hàng hóa ngày càng phát triển.
Bản chất của tín dụng ngân hàng - Tín dụng ngân hàng dựa trên cơ sở lòng tin, là sự chuyển nhượng một tài sản có thời hạn - Tín dụng phải trên nguyên tắc hoàn trả vô điều kiện - Tín dụng là hoạt động tiềm ẩn rủi ro cao cho ngân hàng, cho vay có mục đích, bảo đảm theo quy định. Về cơ bản, trong các ngân hàng thương mại hiện nay tín dụng được chia thành 02 mảng chính: Tín dụng cá nhân: Phục vụ các khách hàng cá nhân, nhu cầu phục vụ đời sống như: vay mua nhà, mua ô tô, du học, kinh doanh, phục vụ đời sống cá nhân. Tín dụng doanh nghiệp: Phục vụ các khách hàng doanh nghiệp, nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh như: cho vay bổ sung vốn lưu động, mua sắm tài sản, thanh toán công nợ khác (trừ trường hợp vay trả nợ ngân hàng khác). Khái niệm về chất lượng tín dụng của NHTM Khái niệm “chất lượng” được hiểu là cái làm nên phẩm chất, giá trị của sự vật hiện tượng; chất lượng sản phẩm là toàn bộ những đặc tính của sản phẩm thỏa 6 mãn những đòi hỏi nhất định, tương ứng với công dụng của nó.
Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định. Tiếp cận khái niệm trên cơ sở đó ta có thể hiểu “Chất lượng tín dụng được hiểu là đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng đồng thời đáp ứng các yêu cầu hợp lý của khách hàng và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế xã hội”. Nói cách khác, chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh mức độ thích nghi của ngân hàng trong quá trình cạnh tranh để tồn tại. Chất lượng tín dụng là một chi tiêu tổng hợp, nó phản ánh mối quan hệ hai chiều giữa người sử dụng sản phẩm (khách hàng) và người cung cấp sản phẩm (ngân hàng).
Chính vì vậy, việc đánh giá chất lượng tín dụng đặc biệt quan trọng đối với NHTM. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại 2. Các nhân tố chủ quan - Chính sách tín dụng: chính sách tín dụng phản ánh định hướng cơ bản cho hoạt động tín dụng, nó có ý nghĩa quyết định đến sự thành công hay thất bại của ngân hàng. - Quy trình tín dụng: quy trình tín dụng là trình tự tổ chức thực hiện các bước kỹ thuật nghiệp vụ cơ bản, chỉ rõ cách làm, trình tự các bước từ khi bắt đầu đến khi kết thúc một giao dịch thuộc chức năng, nhiệm vụ của cán bộ tín dụng và lãnh đạo ngân hàng có liên quan.
Quy trình tín dụng là yếu tố quan trọng, nếu nó được tổ chức khoa học, hợp lý sẽ cho phép bảo đảm thực hiện các khoản vay có chất lượng. - Kiểm soát nội bộ: Công tác kiểm tra nội bộ hoạt động kinh doanh của ngân hàng càng thường xuyên, chặt chẽ sẽ càng làm cho hoạt động tín dụng đúng hướng, thực hiện đúng các nguyên tắc, yêu cầu thể lệ trong qui chế tín dụng cũng như qui trình tín dụng nhằm ngăn ngừa, hạn chế những sai sót của cán bộ tín dụng, giúp cho hoạt động tín dụng kịp thời sửa chữa, tạo điều kiện thuận lợi nâng cao chất lượng tín dụng. - Tổ chức nhân sự: Muốn nâng cao được hiệu quả trong kinh doanh, chất lượng trong hoạt động tín dụng, ngân hàng cần phải có một đội ngũ cán bộ tín dụng 7 giỏi, được đào tạo có hệ thống, am hiểu và có kiến thức phong phú về thị trường đặc biệt trong lĩnh vực tham gia đầu tư vốn, nắm vững những văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động tín dụng. - Thông tin tín dụng: hoạt động tín dụng muốn đạt được hiệu quả cao, an toàn cần phải có hệ thống thông tin hữu hiệu phục vụ cho công tác này.
Muốn nâng cao chất lượng tín dụng, ngân hàng cần xây dựng được hệ thống thông tin đầy đủ và linh hoạt, nhờ đó cung cấp các thông tin chính xác, kịp thời, tăng cường khả năng phòng ngừa rủi ro tín dụng. Các nhân tố khách quan - Uy tín, đạo đức của người vay: Trong qui trình tín dụng các ngân hàng thường chỉ đưa ra quyết định cho vay sau khi đã phân tích cẩn thận các yếu tố có liên quan đến uy tín và khả năng trả nợ của người vay nhằm hạn chế thấp nhất các rủi ro do chủ quan của người vay có thể gây nên. Khách hàng có thể lừa đảo ngân hàng thông qua việc gian lận về số liệu, giấy tờ, quyền sở hữu tài sản, sử dụng vốn vay không đúng mục đích, không đúng đối tượng kinh doanh, phương án kinh doanh,…Việc khách hàng gian lận tất yếu sẽ dẫn đến những rủi ro cho ngân hàng. Uy tín của khách hàng cũng là một yếu tố đáng quan tâm, uy tín của khách hàng là tiêu chí để đáng giá sự sẵn sàng trả nợ và kiên quyết thực hiện các nghĩa vụ cam kết trong hợp đồng từ phía khách hàng.
- Năng lực, kinh nghiệm quản lý kinh doanh của khách hàng: Chất lượng tín dụng phụ thuộc rất lớn vào năng lực tổ chức, kinh nghiệm quản lý kinh doanh của người vay. Đây chính là tiền đề tạo ra khả năng kinh doanh có hiệu quả của khách hàng, là cơ sở cho khách hàng thực hiện cam kết hoàn trả đúng hạn nợ ngân hàng cả gốc lẫn lãi. Nếu trình độ của người quản lý còn bị hạn chế về nhiều mặt như học vấn, kinh nghiệm thực tế…thì doanh nghiệp rất dễ bị thua lỗ, dẫn đến khả năng trả nợ kém, ảnh hưởng xấu đến chất lượng tín dụng của ngân hàng. Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài Liên quan đến nghiên cứu chất lượng tín dụng, đã có rất nhiều đề tài thực hiện trên thế giới và tại Việt Nam, các kết quả nghiên cứu được công bố dưới dạng các bài báo khoa học, hội thảo, luận án, luận văn.
Sau đây là một số công 8 trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài: Athanasoglou. C (2006) đã nghiên cứu các yếu tố quyết định đến khả năng sinh lời của Ngân hàng ở khu vực Đông Nam Âu tác giả đã chỉ ra 4 yếu tố tác động. Yếu tố đầu tiên là xếp hạng tín dụng, thứ 2 là chính sách tín dụng, thứ 3 là quy mô ngân hàng và yếu tố cuối cùng là điều kiện kinh tế địa phương. Còn Abhiman Das and Saibal Ghosh (2007) nghiên cứu về các yếu tố tác động đến rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại nhà nước ở Indian gia đoạn 1994 - 2005.
Trong đó các yếu tố vi mô ảnh hưởng lớn là tốc độ tăng trưởng tín dụng, danh mục cho vay nhiều rủi ro có tác động tiêu cực đến rủi ro tín dụng.; Faiza Irshad and Khalid Zaman (2011) lại nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại theo khả năng sinh lời nói chung là được phân loại thành hai; các yếu tố bên trong và bên ngoài. Các yếu tố bên trong là chủ yếu bị ảnh hưởng bởi các quyết định quản lý và mục tiêu chính sách của ngân hàng, trong khi các yếu tố bên ngoài tập trung vào liên quan đến ngành và kinh tế vĩ mô các biến số phản ánh trong môi trường kinh tế và luật pháp nơi các ngân hàng hoạt động. Nghiên cứu của Mohammed Al-rawashdeh (2013) nhằm kiểm tra các yếu tố ảnh hưởng đến các cơ sở tín dụng với các chi nhánh ngân hàng ở Aqaba, thông qua các biến sau: khách hàng đi vay, chính sách tín dụng, quản lý trung tâm của các khoản vay và điều kiện của nền kinh tế địa phương. Nghiên cứu chỉ ra rằng tất cả các yếu tố đều quan trọng đối với các khoản tín dụng thông qua trả lời của mẫu nghiên cứu.
Khuyến nghị quan trọng nhất của nghiên cứu mà ban quản lý nên xem xét như sau: yếu tố quan trọng của việc phát hành khoản vay: các nghiên cứu khả thi chính và chi tiết, các ưu đãi cho tất cả những ai đóng góp vào việc thu các khoản vay, uy tín tài chính của Khách hàng và Thiết kế các nghiên cứu khác nhau trong tương lai với các biến khác nhau. Nsambu Kijjambu Frederick (2014) đã chỉ ra rằng các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng tại Uganda bao gồm tất cả các ngân hàng có vốn trong nước và nước ngoài giai đoạn 2000 - 2011. Tác giả sử dụng phương pháp phân tích hồi quy để chỉ ra các yếu tố là: Quản lý hiệu quả, Quản lý rủi ro tín dụng, mức an toàn vốn. Ngoài ra còn có các quy định của chính sách tiền tệ cũng ảnh 9 hưởng mạnh đến hoạt động của ngân hàng.
Trên cơ sở tham khảo lý thuyết và các nghiên cứu liên quan, Trần Thị Anh Đào (2011) đã xây dựng và kiểm định mô hình các nhân tố ảnh hưởng tới rủi tín dụng tại các ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Tác giả sử dụng phương pháp đánh giá độ tin cậy thang đo Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA được sử dụng để sàng lọc và rút trích các nhân tố đạt yêu cầu. Kết quả ước lượng mô hình hồi quy cho thấy yếu tố từ phía khách hàng vay có ảnh hưởng cùng chiều với mức độ lớn nhất đến rủi ro tín dụng (hệ số 0,423).