Chương 1. Khái niệm xi măng Portland – xi măng Portland hỗn hợp 1. Xi măng Portland (PC) Xi măng portland là chất kết dính thủy lực được chế tạo bằng cách nghiền mịn clinker xi măng portland với một lượng thạch cao cần thiết [1]. Khi tiếp xúc với nước xảy ra các phản ứng thủy hóa và tạo thành một dạng hồ gọi là hồ xi măng.
Tiếp theo, do sự hình thành của các sản phẩm thủy hóa, hồ xi măng bắt đầu quá trình đông kết, cuối cùng nhận được vật liệu có cường độ và độ ổn định nhất định. Xi măng portland hỗn hợp (PCB) Xi măng Portland hỗn hợp là chất kết dính thủy lực được tạo thành bằng cách nghiền mịn clinker xi măng Portland với một lượng thạch cao cần thiết và các loại phụ gia khoáng [2]. Khi tiếp xúc với nước xảy ra các phản ứng thủy hóa và tạo thành một dạng hồ gọi là hồ xi măng. Tiếp đó, do sự hình thành của các sản phẩm thủy hóa, hồ xi măng bắt đầu quá trình đông kết, hóa cứng để cuối cùng nhận được vật liệu có cường độ và độ ổn định nhất định.
Xi măng Portland hỗn hợp bền sulfate Xi măng Portland hỗn hợp bền sulfate là một trong các loại xi măng Portland hỗn hợp (theo TCVN 6260:2009) hoặc xi măng Portland xỉ lò cao (theo TCVN 4316:2007) hoặc xi măng đa cấu tử (theo TCVN 9501:2013) khi thỏa mãn yêu cầu kỹ thuật của tiêu chuẩn TCVN 7711:2013 [ 3] Xi măng Portland hỗn hợp bền sulfate được phân loại theo ba mức độ bền: bền sulfate trung bình MS, bền sulfate cao HS và siêu bền sulfate US. 5 LUẬN VĂN THẠC SỸ TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI HỒ XUÂN VINH Bảng 1.Các chỉ tiêu chất lượng của xi măng Portland hỗn hợp [2] Bảng 1.Yêu cầu độ bền sulfate [3] 6 LUẬN VĂN THẠC SỸ TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI HỒ XUÂN VINH 1. Phụ gia và vai trò của phụ gia xi măng 1. Định nghĩa về phụ gia xi măng Phụ gia khoáng của xi măng là các vật liệu vô cơ thiên nhiên hoặc nhân tạo khi sử dụng trong xi măng poóc lăng hỗn hợp không gây ảnh hưởng xấu đến tính chất xi măng, bê tông và bê tông cốt thép.Phụ gia khoáng được chia làm hai loại: phụ gia hoạt tính và phụ gia đầy[4].
Tính chất và vai trò của phụ gia xi măng Cải thiện tính năng dễ dàng thi công của hỗn hợp bê tông và vữa: - Tăng độ linh động, độ sụt của bê tông. - Làm chậm lại hoặc tăng nhanh quá trình đóng rắn của bê tông. Cải thiện tính chất của bê tông sau khi hóa cứng: +Tăng cường độ sớm. +Tăng độ chống thấm.
+Làm chậm quá trình tỏa nhiệt hoặc giảm nhiệt lượng tỏa ra khi bê tông đang hoá rắn để tránh các vết nứt do co ngót nhiệt đặc biệt là đối với các công trình bê tông khối lớn như: thủy điện, đập nước. + Hạn chế sự nở thể tích do các phản ứng của các chất kiềm với các thành phần của khoáng cốt liệu. +Tạo sự bám dính chặt giữa các phần bê tông cũ và mới. Tuy nhiên với mỗi loại phụ gia nhất định đều có ưu điểm và nhược điểm riêng, với tỷ lệ tối ưu nhất định sử dụng trong xi măng, do đó cần phải thử nghiệm trước khi đưa phụ gia vào sử dụng để đảm bảo hiệu quả cao.
Giới thiệu chung về tro, xỉ nhiêt điện 1. Định nghĩa – quá trình tạo thành tro xỉ nhiệt điện Tro, xỉ nhiệt điện là sản phẩm cháy của quá trình đốt than để vận hành nhà máy nhiệt điện (NMNĐ), gồm: Tro đáy (xỉ đáy lò) hay còn gọi là xỉ, là các hạt thô, to thu được ở đáy lò đốt và tro bay. 7 LUẬN VĂN THẠC SỸ TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI HỒ XUÂN VINH Tro bay, là thải phẩm bụi mịn thu được tại bộ phận lắng bụi khí thải của NMNĐ từ quá trình đốt than [5]. Các hạt tro mịn bay lên được thu lại tại lọc bụi (lọc bụi túi, lọc bụi tĩnh điện).
Ngoài ra, còn có thạch cao, là sản phẩm của quá trình khử khí SO2 trong khói khi đốt. Thông thường lượng tro bay chiếm khoảng 80 - 90 %, còn xỉ chỉ chiếm khoảng 10 - 20%. Hiện nay, các nhà máy nhiệt điện than tại Việt Nam đang sử dụng một trong hai loại công nghệ đốt: Công nghệ lò đốt than phun – PC (Pulverised combustion) và Công nghệ lò hơi tầng sôi tuần hoàn - CFB (Circulating Fluidizing Bed). Công nghệ đốt than phun PC Than nhập về nhà máy được đưa vào kho chứa có hệ thống đảo trộn để đồng nhất than phục vụ quá trình đốt.
Than được nghiền mịn trên máy nghiền sấy liên hợp đến cỡ hạt ≤ 0,09 mm chuyển đến các két chứa. Than mịn được hệ thống cấp liệu, định lượng chuyển đến vòi phun than, phun vào lò và bị đốt cháy trong không gian của lò hơi. Nhiệt độ trong lò đốt khoảng 1400oC- 1600 oC nhằm mục đích gia nhiệt cho nước hóa hơi sinh áp lực để cấp cho turbine sinh công, phát điện. Than cháy để lại tro than, một phần quá nhiệt nóng chảy biến thành xỉ rơi xuống đáy lò được làm lạnh bằng nước, phần lớn tro than mịn theo gió lò vào lọc bụi điện để giữ lại, khí sạch thải ra môi trường.
Tùy theo hàm lượng lưu huỳnh có trong than và yêu cầu khử khí SO2 mà các nhà máy nhiệt điện có thêm hệ thống FGD (Flue - Gas Desulfurization Gypsum) để hấp thụ khí SO2. Hệ thống FGD hoạt động sử dụng dung dịch đá vôi để hấp thụ khí SO2 sinh ra thạch cao. Đối với công nghệ đốt than phun PC, thạch cao FGD phát sinh và được thải ra riêng biệt với tro bay. Công nghệ đốt than tầng sôi CFB Công nghệ này sử dụng khi than có chất lượng thấp (nhiệt trị thấp) và hàm lượng lưu huỳnh cao.
Than được nhập về nhà máy chứa trong các kho có thể đảo trộn hoặc phối trộn các mẻ để đồng nhất.Than được gia công trên máy đập búa đến cỡ hạt <10 mm chứa trong các két có hệ thống cấp định lượng. 8 LUẬN VĂN THẠC SỸ TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI HỒ XUÂN VINH Đá vôi cũng được gia công đến cỡ hạt <10 mm chứa trong két có hệ thống cấp liệu và định lượng. Than và đá vôi được cấp vào lò đốt tầng sôi tuần hoàn để sinh nhiệt cấp cho nước hóa thành hơi cao áp cấp cho turbine sinh công, phát điện. Than cháy sinh nhiệt, cùng đá vôi được tuần hoàn trong buồng đốt phản ứng với khí SO2 của khói lò chuyển thành CaSO4.
Khói lò cùng tro mịn thu vào lọc bụi tĩnh điện, khí sạch thải ra môi trường theo ống khói. Các hạt tro than to và đá vôi đã hoặc chưa phản ứng hết rơi xuống đáy lò ra ngoài thành tro đáy (xỉ). Đối với các nhà máy sử dụng công nghệ CFB, thạch cao luôn luôn lẫn với tro bay. Các tính chất đặc trưng của tro, xỉ nhiệt điện Theo công nghệ đốt than của nhà máy nhiệt điện tại Việt Nam, tro, xỉ nhiệt điện được phân làm 2 loại: tro, xỉ nhiệt điện theo công nghệ đốt than phun PC và tro, xỉ nhiệt điện theo công nghệ đốt than tầng sôi CFB.Trong đó chủ yếu là các nhà máy nhiệt điện sử dụng công nghệ PC.
Theo Quy hoạch điện VII, đến năm 2020 và 2030 thì công suất của các nhà máy nhiệt điện sử dụng công nghệ đốt than tầng sôi nước ta chiếm khoảng 10% trên tổng công suất của các nhà máy nhiệt điện than. Tro bay, xỉ nhà máy nhiệt điện sử dụng công nghệ đốt PC: Tro bay được hình thành do các quá trình đốt than đã được nghiền mịn ở nhiệt độ cao 1400-1600 oC, do vậy tro bay thu được gồm hỗn hợp các hạt bị nóng chảy và các hạt than chưa cháy hết. Phần vật liệu bị nóng chảy khi được làm lạnh nhanh tạo thành chủ yếu pha thủy tinh và các hạt hình cầu, ngoài ra còn một lượng nhỏ pha tinh thể. Các hạt tro bay hình cầu có thể là hạt cầu rỗng (chứa nhiều hạt cầu con trong nó) hoặc là các hạt cầu đặc.
Pha thủy tinh chiếm khoảng (60-90)% khối lượng tro bay. Pha thủy tinh và pha tinh thể không hoàn toàn độc lập với nhau mà thường pha trộn lẫn, thông thường pha tinh thể nằm trong cấu trúc pha thủy tinh hoặc gắn liền với bề mặt các hình cầu của pha thủy tinh. Do vậy, cấu trúc tổng thể của tro bay là phức tạp và pha trộn[6]. 9 LUẬN VĂN THẠC SỸ TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI HỒ XUÂN VINH Hình 1.
Ảnh SEM hạt tro bay công nghệ đốt than phun Xỉ được hình thành cùng với quá trình hình thành tro bay, tuy nhiên khi tro than nóng chảy kết thành tảng có kích thước lớn rơi xuống đáy lò và được làm lạnh nhanh bằng nước nên thành phần chủ yếu là pha thủy tinh và lẫn rất ít than chưa cháy. Tro bay, xỉ nhà máy nhiệt điện theo công nghệ đốt CFB: Quá trình đốt than tầng sôi ở nhiệt độ khoảng 800 oC-900oC và được đốt tuần hoàn rất lâu trong lò đốt. Các hạt than được đốt cháy, một phần tro than vỡ ra rất mịn và nhẹ bay lên cùng khí nóng gọi là tro bay (trong tro bay có lẫn cả than mịn chưa cháy hết), phần tro than dạng hạt to (hạt cát) rơi xuống đáy là được làm lạnh nhanh gọi là xỉ. Do công nghệ đốt ở nhiệt độ thấp (800oC-900oC) nên phần lớn phần vật liệu không cháy trong than chưa bị nóng chảy, đó là các khoáng chiếm lượng lớn trong tro bay, xỉ như khoáng quazt, khoáng chứa Al2O3 , hợp chất sắt oxyt, hợp chất CaO.
Các hạt tro bay CFB có hình dạng góc cạnh (hình 1. Ngoài ra, các hạt tro bay CFB có tỷ diện bề mặt lớn, kết dính với nhau và độ xốp giữa các hạt lớn. Tro bay CFB có hàm lượng SO 3, CaSO4, CaCO 3, CaO lớn hơn so với tro bay công nghệ đốt than phun do bột đá vôi được phun vào trong quá trình đốt để khử SO 2 trong khí thải. 10 LUẬN VĂN THẠC SỸ TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI HỒ XUÂN VINH Hình 1.Ảnh SEM hạt tro bay công nghệ đốt than tầng sôi 1.
Ưu điểm của tro bay Sử dụng tro bay trong SX xi măng, bê tông và vữa xây dựng mang lại lợi ích kinh tế, kỹ thuật đáng kể, như: - Do nhu cầu ít nước nên giảm co (Giảm tỷ lệ N/X, từ đó giảm hiện tượng nứt do co ngót); - Tăng cường độ bê tông. Cường độ 28 ngày tiếp tục tăng do tác dụng chậm của tro bay với CH tạo ra CSH mới.