Tổng quan về luận án

Ngành xây dựng hạ tầng giao thông toàn cầu đang đối mặt với thách thức kép: đáp ứng nhu cầu phát triển kết cấu nhịp lớn đồng thời cắt giảm phát thải khí nhà kính nhằm hiện thực hóa cam kết Net Zero vào năm 2050 tại COP26. Tại Việt Nam, "cứ mỗi tấn xi măng phát thải ra 667,57kg CO2", trong khi sản lượng xi măng năm 2022 đạt 99,7 triệu tấn, đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc phát triển vật liệu kết cấu xanh thay thế bê tông xi măng Portland truyền thống (OPC). Bê tông Geopolymer (GPC) sử dụng tro bay nhiệt điện và xỉ lò cao nghiền mịn hoạt hóa kiềm nổi lên như giải pháp đột phá. Tuy nhiên, rào cản lớn nhất cản trở việc áp dụng GPC vào kết cấu dầm cầu ứng suất trước (UST) là sự thiếu hụt dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác về biến dạng dài hạn.

Khoảng trống nghiên cứu (research gap) cốt lõi xuất phát từ sự mâu thuẫn trong các công bố quốc tế: các nghiên cứu kinh điển của Hardjito & Rangan (2005) khẳng định GPC bảo dưỡng nhiệt có co ngót và từ biến thấp hơn OPC, nhưng các công trình gần đây (Cartwright et al., 2014; Chi Hou Un, 2017) chỉ ra rằng GPC đóng rắn ở điều kiện tự nhiên chứa hàm lượng xỉ cao lại có độ co ngót tự sinh và biến dạng từ biến rất lớn, gây nguy cơ mất mát ứng suất trước (MMUST) nghiêm trọng.

Luận án tiến sĩ kỹ thuật của NCS. Vũ Thành Quang (2024) tại Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Nguyễn Bình Hà và TS. Nguyễn Quốc Bảo, đã giải quyết toàn diện vấn đề này qua hệ thống câu hỏi và giả thuyết khoa học:

  • Câu hỏi nghiên cứu 1 (RQ1): Mối quan hệ ứng suất - biến dạng, mô đun đàn hồi và độ bền chịu nén của GPC chế tạo từ 100% nguồn khoáng công nghiệp Việt Nam (tro bay Phả Lại và xỉ lò cao Hòa Phát) tuân theo quy luật cơ học nào?
  • Câu hỏi nghiên cứu 2 (RQ2): Mức độ co ngót và hệ số từ biến thực tế của GPC trong chu kỳ 180 ngày có sai lệch bao nhiêu phần trăm so với mô hình dự báo của tiêu chuẩn AASHTO LRFD 2017 và TCVN 11823-5:2017 dành cho OPC?
  • Câu hỏi nghiên cứu 3 (RQ3): Mất mát ứng suất trước thực tế trong cáp kéo của dầm GPC UST toàn khối dài hạn diễn tiến ra sao và liệu dầm cầu GPC UST nhịp 33m có thỏa mãn toàn diện các trạng thái giới hạn sử dụng và cường độ?

Khung lý thuyết của nghiên cứu tích hợp thuyết trùng ngưng Geopolymerization của Joseph Davidovits (1978), cơ chế tự hút ẩm mao dẫn (Self-desiccation capillary theory) và nguyên lý cơ học kết cấu bê tông ứng suất trước (Prestressed Concrete Mechanics). Về phạm vi, đề tài thực hiện đo đạc thực nghiệm trên tổ hợp hàng chục mẫu chuẩn cơ lý, theo dõi liên tục 180 ngày biến dạng từ biến, co ngót và giám sát mất mát ứng suất thực tế trên mô hình dầm chữ T dài 10,4m chế tạo tại Công ty Bê tông Xuân Mai bằng hệ thống cảm biến dây rung hiện đại, làm tiền đề kiểm toán dầm chữ I dài 33m định hình.

Literature Review và Positioning

Tổng quan y văn quốc tế cho thấy sự tiến hóa rõ nét của ba dòng nghiên cứu chính:

  1. Dòng nghiên cứu phản ứng trùng ngưng và vi cấu trúc: Khởi xướng bởi Joseph Davidovits (1978, 1999) với các mô hình mạng không gian ba chiều vô định hình Poly(sialate) (-Si-O-Al-O-), Poly(sialate-siloxo) (-Si-O-Al-O-Si-O-) và Poly(sialate-disiloxo). Nghiên cứu của Provis & van Deventer (2009) cùng Kumar & Mehrotra (2005) qua phổ XRD đã làm sáng tỏ cơ chế hòa tan alumino-silicat tạo gel natri-aluminosilicate-hydrat (N-A-S-H) đối với tro bay và gel canxi-aluminosilicate-hydrat (C-A-S-H) đối với xỉ lò cao. Khác biệt cốt tử với OPC nằm ở chỗ: ranh giới tiếp xúc giữa chất kết dính GPC và cốt liệu không xuất hiện vùng chuyển tiếp vi cấu trúc (ITZ) xốp yếu, tạo tiềm năng cơ học vượt trội.
  2. Dòng nghiên cứu đặc trưng cơ lý ngắn hạn: Hardjito & Rangan (2005) cùng Collins et al. (1993) đã thiết lập phương trình cấu tạo ứng suất - biến dạng cho GPC tro bay bảo dưỡng nhiệt. Robert J. Thomas & Sulapha Peethamparan (2015) mở rộng sang hệ tro bay kết hợp xỉ lò cao, chứng minh GPC chứa xỉ có cường độ chịu nén phát triển nhanh (đạt 40–70 MPa sau 28 ngày) nhưng thể hiện tính chất phá hủy giòn hơn sau đỉnh ứng suất.
  3. Dòng tranh luận học thuật về biến dạng dài hạn: Đây là tâm điểm mâu thuẫn trong y văn. Trường phái Rangan (2005, 2014) cho rằng hệ số từ biến của GPC chỉ dao động 0,4–0,7 (bằng khoảng 50% OPC tiêu chuẩn Úc) và co ngót dưới 200 microstrain. Ngược lại, trường phái Cartwright et al. (2014), Zhenming Li (2021) và Chi Hou Un (2017) phát hiện GPC hoạt hóa kiềm đóng rắn tự nhiên có độ co ngót tự sinh vượt trội. Cụ thể, trích đoạn nghiên cứu của Chi Hou Un (2017) xác nhận: "Độ co tự sinh của GPC gần như gấp đôi so với OPCC. Độ co ngót tự sinh đóng góp khoảng 70% tổng độ co ngót của GPC, trong khi đối với OPCC chỉ khoảng 45%". Sự tự hút ẩm mãnh liệt trong cấu trúc lỗ rỗng gel C-A-S-H của xỉ lò cao tạo áp lực mao dẫn cực lớn, thúc đẩy co ngót sớm trong 7 ngày đầu.

Định vị nghiên cứu: Luận án đặt mình vào giao điểm giữa vật liệu học GPC địa phương và cơ học kết cấu cầu giao thông. Bằng việc đối sánh trực tiếp với 2 nghiên cứu quốc tế tiêu chuẩn là Hardjito & Rangan (Úc) và Chi Hou Un (Úc/Mỹ), công trình đã lấp đầy khoảng trống chưa từng được khảo sát tại Việt Nam: xác lượng hóa chính xác sai số khi áp dụng tiêu chuẩn thiết kế cầu AASHTO LRFD 2017 / TCVN 11823:2017 lên kết cấu dầm cầu bê tông Geopolymer ứng suất trước chịu biến dạng dài hạn.

Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án mở rộng và kiểm chứng giới hạn ứng dụng của Thuyết cơ học đàn nhớt (Viscoelasticity Theory) và Mô hình biến dạng cấu tạo Collins (1993) trên nền vật liệu vô cơ phi xi măng. Nghiên cứu chứng minh:

  • "Mô đun đàn hồi của GPC nằm trong khoảng từ 67,41% đến 71,51% mô đun đàn hồi của OPC" ở cùng cấp cường độ nén đặc trưng (40–90 MPa), đồng thời hệ số Poisson thực nghiệm đạt 0,12–0,16 (tương đương 60–80% của OPC). Phát hiện này tái định hình giả định lý thuyết về mối tương quan giữa cường độ nén và độ cứng chống uốn tức thời của kết cấu geopolymer.
  • Thiết lập mô hình giải tích hồi quy phi tuyến tính mô tả quá trình tích lũy co ngót và từ biến của GPC tro bay - xỉ lò cao Việt Nam theo thời gian, chứng minh rằng tốc độ tích lũy biến dạng trong 28 ngày đầu chiếm hơn 65–70% tổng biến dạng 180 ngày, thách thức giả định biến dạng tiệm tiến đều đặn vốn áp dụng cho bê tông xi măng truyền thống.

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của luận án tích hợp đa tầng ba trụ cột khoa học:

  1. Trụ cột Vi cấu trúc - Phản ứng hóa học: Liên kết bản chất hoạt hóa kiềm NaOH/Na2SiO3 tác động lên hỗn hợp tro bay Phả Lại và xỉ lò cao Hòa Phát tạo mạng gel lai C-(N)-A-S-H.
  2. Trụ cột Cơ học vật liệu thực nghiệm: Chuẩn hóa quy trình kiểm tra mô đun đàn hồi (ASTM C469), co ngót khô và tự sinh (ASTM C157, TCVN 3117-2022), từ biến nén đơn trục (ASTM C512) đặt trong buồng kiểm soát độ ẩm và nhiệt độ nghiêm ngặt.
  3. Trụ cột Cơ học kết cấu công trình: Quy đổi biến dạng vật liệu thành hàm số tổn thất ứng suất kéo trong tao thép dự ứng lực qua thời gian, kiểm toán theo trạng thái giới hạn sử dụng (SLS I, II, III) và trạng thái giới hạn cường độ (ULS - uốn, cắt, xoắn) trên dầm dập khuôn thực tế.

Điều kiện biên lý thuyết: Mô hình áp dụng cho GPC đóng rắn trong điều kiện độ ẩm tự nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa, nhiệt độ phòng 25–30°C, sử dụng cốt liệu tiêu chuẩn miền Bắc Việt Nam, bỏ qua ảnh hưởng của hiện tượng chùng dão cốt thép sợi đơn lẻ khi phân tích tổn thất do bê tông.

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu vận hành theo thế giới quan thực chứng hậu nghiệm (Post-positivism) kết hợp mô hình tiếp cận thực nghiệm cơ chế vi mô (Experimental-Mechanistic Design). Thiết kế nghiên cứu đa cấp độ (Multi-level design) được triển khai qua 3 cấp bậc:

  • Cấp độ 1 (Vật liệu vi mô & vữa): Phân tích thành phần hóa học oxit (XRF/XRD), đường cong cấp phối hạt tro bay và xỉ lò cao.
  • Cấp độ 2 (Cơ tính mẫu chuẩn vĩ mô): Hệ thống mẫu trụ $\Phi 150 \times 300\text{ mm}$ (cường độ nén, mô đun đàn hồi), mẫu lăng trụ $100 \times 100 \times 400\text{ mm}$ (co ngót, từ biến) chế tạo theo tỷ lệ cấp phối tối ưu.
  • Cấp độ 3 (Cấu kiện kết cấu quy mô lớn): Chế tạo dầm thực nghiệm mặt cắt chữ T dài $L = 10,4\text{ m}$ chịu lực kéo căng trước, tích hợp quan trắc tự động liên tục 180 ngày.

Quy trình nghiên cứu rigorous

Quy trình thực nghiệm tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn quốc tế và quốc gia:

  • Xác định cường độ chịu nén và quan hệ $\sigma - \varepsilon$: Thí nghiệm theo ASTM C39 và TCVN 3118-2022 trên máy nén thủy lực điều khiển tốc độ biến dạng tại LAS-XD125. Mô đun đàn hồi $E_c$ xác định theo ASTM C469 tại ngưỡng ứng suất $0,4 f'_c$.
  • Đo đạc biến dạng co ngót: Mẫu lăng trụ được đặt trên giá đo cơ học có gắn đồng hồ so điện tử độ chính xác $0,001\text{ mm}$ theo ASTM C157/C157M-17 và TCVN 3117-2022.
  • Đo đạc biến dạng từ biến: Thực hiện trên khung gia tải lò xo nén chuyên dụng theo ASTM C512. Tải trọng duy trì liên tục ở mức $0,4 f'_c$ tính từ ngày tuổi thứ 28, kiểm soát lực kích định kỳ qua cảm biến lực tải trọng (load cell).
  • Hệ thống cảm biến dầm thực nghiệm: Dầm chữ T dài $10,4\text{ m}$ đúc tại nhà máy Bê tông Xuân Mai được cấy trực tiếp 12 cảm biến biến dạng dây rung (Vibrating Wire Strain Gauge) gắn vào cốt thép thường và tao cáp ứng suất trước tại tiết diện giữa nhịp và đầu dầm, loại bỏ hoàn toàn sai số trôi dạt (signal drift) của cảm biến điện trở thông thường.

Data và phân tích

Số liệu đo đạc biến dạng từ biến, co ngót và tần số cảm biến dây rung được thu thập định kỳ: ngày 1, 3, 7, 14, 28, 60, 90, 120 và 180. Thuật toán lọc nhiễu nhiệt độ môi trường được tích hợp trực tiếp vào công thức giải mã tần số dây rung: $$\varepsilon = K (f_1^2 - f_0^2) + C_T (T_1 - T_0)$$ Toàn bộ dữ liệu kiểm toán kết cấu cầu dầm giản đơn I33m được thực hiện thông qua mô hình phân tích phần tử hữu hạn và bảng tính tự động hóa chuẩn AASHTO LRFD 2017, kiểm tra độ nhạy (robustness check) qua 3 giai đoạn thi công - khai thác.

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

  1. Quy luật phát triển cường độ và độ cứng đàn hồi: Bê tông GPC tro bay - xỉ lò cao đạt cường độ nén 7 ngày bằng 85–90% cường độ 28 ngày ($f'{c,28} \ge 50\text{–}60\text{ MPa}$), đáp ứng hoàn hảo yêu cầu căng kéo sớm cáp dự ứng lực trong công nghệ đúc sẵn. Tuy nhiên, mô đun đàn hồi thực nghiệm chỉ đạt xấp xỉ $26\text{–}28\text{ GPa}$, thấp hơn khoảng 30% so với dự báo của tiêu chuẩn TCVN 11823:2017 cho OPC ($E{c,\text{OPC}} \approx 36\text{–}39\text{ GPa}$).
  2. Đặc trưng biến dạng co ngót thực nghiệm: Biến dạng co ngót của GPC phát triển vượt bậc ở giai đoạn đầu (0–14 ngày) do sự đóng góp vượt trội của co ngót tự sinh từ phản ứng hoạt hóa xỉ. Sau 180 ngày, biến dạng co ngót tỷ đối của GPC ổn định ở mức $550\text{–}620 \times 10^{-6}$, cao hơn 15–25% so với giá trị tính toán theo mô hình AASHTO LRFD cho OPC cùng cấp độ bền.
  3. Đặc tính từ biến nén: Hệ số từ biến thực nghiệm $\phi(t, t_i)$ của GPC sau 180 ngày dao động trong khoảng 1,25–1,48, thấp hơn đáng kể so với hệ số từ biến dự báo của OPC theo AASHTO ($\phi_{\text{AASHTO}} \approx 1,8\text{–}2,1$). Điều này chỉ ra rằng gel aluminosilicate có tính ổn định từ biến cao hơn gel tobermorite của xi măng Portland dưới tải trọng duy trì lâu dài.
  4. Mất mát ứng suất trước trong dầm thực nghiệm $10,4\text{ m}$: Tổng mất mát ứng suất trước do co ngót và từ biến đo bằng cảm biến dây rung sau 6 tháng thực tế đạt $142\text{–}158\text{ MPa}$. Kết quả này tương thích cao với mô hình tính toán lý thuyết có hiệu chỉnh hệ số vật liệu, sai số thực tế không vượt quá $7,8%$.
  5. Khả năng chịu lực của dầm I33m GPC: Kiểm toán dầm I33m bê tông GPC liên hợp bản mặt cầu cho thấy: ứng suất kéo thớ đáy ở TTGH sử dụng III và sức kháng uốn danh định ở TTGH cường độ I hoàn toàn thỏa mãn tiêu chuẩn, độ võng dài hạn chỉ tăng nhẹ 4,2% so với dầm OPC do sự bù trừ giữa mô đun đàn hồi thấp và hệ số từ biến nhỏ.

Implications đa chiều

  • Ý nghĩa lý thuyết: Cung cấp bộ thông số thực nghiệm toàn diện đầu tiên tại Việt Nam về hàm biến dạng nhớt dẻo của GPC, đóng góp cơ sở dữ liệu quý giá vào mạng lưới nghiên cứu GPC kết cấu toàn cầu.
  • Ý nghĩa phương pháp luận: Chuẩn hóa quy trình quan trắc mất mát ứng suất dài hạn cho cấu kiện đúc sẵn sử dụng cảm biến dây rung chôn chìm, có thể chuyển giao áp dụng cho nhiều dạng kết cấu hạ tầng khác.
  • Ý nghĩa thực tiễn & chính sách: Mở đường cho Bộ Giao thông Vận tải và Bộ Xây dựng xây dựng khung tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia về thiết kế cầu bê tông Geopolymer đúc sẵn, tận dụng hàng chục triệu tấn tro xỉ nhiệt điện tồn đọng tại bể chứa Phả Lại, Vĩnh Tân, Duyên Hải, chuyển hóa gánh nặng môi trường thành tài nguyên hạ tầng bền vững.

Limitations và Future Research

Nghiên cứu ghi nhận một số giới hạn khoa học cần được tiếp tục mở rộng:

  1. Giới hạn thời gian quan trắc: Chuỗi số liệu thực nghiệm dầm 10,4m và mẫu trụ dừng lại ở mốc 180 ngày (6 tháng); mặc dù các biến dạng chính đã bước vào giai đoạn tiệm cận ổn định, việc quan sát kéo dài 1–3 năm là cần thiết để đánh giá trọn vẹn hiện tượng chùng dão kết hợp.
  2. Phạm vi nguồn vật liệu: Cấp phối nghiên cứu tập trung vào nguồn tro bay Phả Lại và xỉ lò cao Hòa Phát với tỷ lệ chất hoạt hóa cố định; chưa bao phủ các nguồn tro bay loại C hoặc xỉ từ công nghệ luyện kim khác.
  3. Môi trường bảo dưỡng: Các thí nghiệm thực hiện trong điều kiện phòng thí nghiệm tiêu chuẩn miền Bắc, chưa xét đến biến đổi chu kỳ khô ướt khắc nghiệt hoặc môi trường biển xâm thực mặn.

Hướng nghiên cứu tương lai:

  • Xây dựng mô hình số hóa 3D phi tuyến tính (FEM) mô phỏng tương tác từ biến - nứt vi mô cục bộ trong dầm cầu GPC UST chịu tải trọng mỏi chu kỳ cao.
  • Mở rộng nghiên cứu tác động của phụ gia nano (nano-silica, nano-TiO2) nhằm ức chế co ngót tự sinh sớm của GPC nhiều xỉ.
  • Thử nghiệm dầm GPC UST nhịp lớn ngoài hiện trường thực tế dưới tác động trực tiếp của bức xạ nhiệt mặt trời và tải trọng xe cơ giới.

Tác động và ảnh hưởng

  • Ảnh hưởng học thuật: Luận án tạo tiền đề cho các công bố quốc tế chất lượng cao trên các tạp chí nhóm Q1/Q2 (Construction and Building Materials, Engineering Structures), ước tính mang lại hàng trăm trích dẫn học thuật trong giai đoạn 2024–2030 nhờ dữ liệu thực nghiệm quy mô dầm thật hiếm có.
  • Chuyển đổi ngành công nghiệp: Thúc đẩy các doanh nghiệp sản xuất cấu kiện bê tông đúc sẵn lớn (như Bê tông Xuân Mai, AMACCAO, Hùng Vương) thương mại hóa sản phẩm dầm cầu GPC, tà vẹt đường sắt GPC và cọc cừ dự ứng lực xanh.
  • Lợi ích xã hội & môi trường: Cứ mỗi km cầu dầm I33m chuyển đổi từ OPC sang GPC giúp tiêu thụ khoảng 1.200 tấn tro xỉ phế thải và cắt giảm hơn 750 tấn khí thải CO2 ra môi trường, đóng góp trực tiếp vào mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.

Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh & Nhà khoa học trẻ: Tiếp cận phương pháp luận thực nghiệm dầm kích thước lớn và bộ số liệu gốc về quan hệ ứng suất - biến dạng, từ biến GPC để phát triển các mô hình dự báo AI/Machine Learning.
  • Kỹ sư thiết kế cầu đường: Nắm vững công thức và hệ số hiệu chỉnh mô đun đàn hồi, mất mát ứng suất trước khi áp dụng tiêu chuẩn AASHTO LRFD / TCVN 11823 vào công trình sử dụng vật liệu geopolymer.
  • Chủ đầu tư & Cơ quan quản lý nhà nước: Có đầy đủ luận cứ khoa học và minh chứng kỹ thuật để tự tin phê duyệt các dự án giao thông áp dụng vật liệu xanh, đáp ứng tiêu chí tín chỉ carbon và công trình xanh.

Câu hỏi chuyên sâu

  1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì? Đó là việc chứng minh và định lượng hóa sự phân kỳ của vật liệu GPC so với lý thuyết đàn nhớt truyền thống của OPC: GPC có mô đun đàn hồi thực tế thấp hơn 30% nhưng hệ số từ biến dài hạn lại nhỏ hơn 25–30% so với OPC cùng cường độ, từ đó thiết lập công thức thực nghiệm chuẩn xác hóa tính toán MMUST.
  2. Điểm đổi mới phương pháp luận so với các công trình quốc tế đi trước? Khác với Hardjito & Rangan (2005) chỉ khảo sát mẫu trụ nhỏ bảo dưỡng nhiệt, hay Cartwright et al. (2014) chỉ dừng lại ở vữa xi măng, luận án đã mở rộng phương pháp thực nghiệm từ cấp độ vi mô vật liệu lên cấu kiện dầm chữ T $10,4\text{ m}$ toàn khối với công nghệ đo biến dạng dây rung chôn chìm theo thời gian thực.
  3. Phát hiện bất ngờ nhất từ số liệu thực nghiệm là gì? Đó là sự bùng nổ co ngót tự sinh trong 7 ngày đầu của GPC tro bay kết hợp xỉ lò cao chiếm tới 70% tổng co ngót 180 ngày, nhưng sau 28 ngày tốc độ co ngót lại suy giảm nhanh hơn nhiều so với bê tông xi măng Portland thông thường.
  4. Quy trình nghiên cứu có khả năng tái lặp (Replication protocol) không? Hoàn toàn có. Luận án công bố chi tiết thành phần cấp phối, tỷ lệ kích hoạt kiềm $\text{Na}_2\text{SiO}_3/\text{NaOH}$, đường kính hạt oxit khoáng, quy trình trộn, bảo dưỡng và sơ đồ bố trí cảm biến dây rung đạt chuẩn ISO/ASTM.
  5. Chương trình nghiên cứu 10 năm tiếp theo được định hình ra sao? Lộ trình 10 năm gồm 3 bước: (1) Chuẩn hóa tiêu chuẩn ngành cho dầm đúc sẵn GPC; (2) Ứng dụng GPC cho kết cấu nhịp liên tục đúc hẫng cân bằng; (3) Tích hợp công nghệ in 3D bê tông Geopolymer tự lèn trong xây dựng công trình ngầm và cầu vượt đô thị.

Kết luận

  1. Đã xác định hoàn chỉnh các thông số cơ học cơ bản của GPC tro bay - xỉ lò cao chế tạo tại Việt Nam: cường độ nén đạt $50\text{–}65\text{ MPa}$, mô đun đàn hồi $E_c = 26\text{–}28\text{ GPa}$, hệ số Poisson $\nu = 0,12\text{–}0,16$.
  2. Đo đạc và lượng hóa chính xác đường cong co ngót và hệ số từ biến trong 180 ngày, chứng minh hệ số từ biến GPC thấp hơn OPC nhưng co ngót tự sinh sớm cao hơn.
  3. Chế tạo thành công và quan trắc liên tục 6 tháng dầm GPC UST dài $10,4\text{ m}$, xác định chính xác giá trị mất mát ứng suất trước do co ngót và từ biến đạt $142\text{–}158\text{ MPa}$.
  4. Kiểm toán hoàn thiện dầm cầu I33m bằng vật liệu GPC theo TCVN 11823:2017 và AASHTO LRFD 2017, khẳng định dầm GPC hoàn toàn đáp ứng các trạng thái giới hạn sử dụng và cường độ tương đương dầm OPC.
  5. Mở ra 3 hướng nghiên cứu mới: tối ưu hóa vi cấu trúc hạn chế co ngót sớm, phân tích mỏi dài hạn kết cấu dầm GPC nhịp lớn, và xây dựng tiêu chuẩn thiết kế cầu bê tông Geopolymer quốc gia.
  6. Đóng góp giải pháp vật liệu mang tính bước ngoặt, tạo nền tảng khoa học vững chắc giúp ngành hạ tầng giao thông Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu giảm phát thải carbon và phát triển bền vững.