MỞ ĐẦU Lý do chọn đề tài Tại Hội nghị thượng đỉnh về biến đổi khí hậu của Liên Hợp Quốc năm 2021 (COP 26), Chính phủ Việt Nam cam kết đạt mức phát thải ròng bằng không vào năm 2050. Hiện nay tại Việt Nam, cứ mỗi tấn xi măng phát thải ra 667,57kg CO 2, trong khi sản lượng xi măng năm 2022 của Việt Nam là 99,7 triệu tấn. Do đó, việc giảm lượng xi măng trong quá trình xây dựng tại nước ta sẽ đóng góp tích cực cho cam kết của Chính phủ. Bê tông Geopolymer (GPC) là bê tông không sử dụng chất kết dính xi măng và tận dụng được nguồn phế thải của quá trình sản xuất công nghiệp như tro bay của nhà máy nhiệt điện; xỉ lò cao của nhà máy luyện gang, thép… Do đó, trên thế giới GPC được biết đến như là một vật liệu xanh, thân thiện với môi trường và có nhiều đặc tính kỹ thuật tốt như hạn chế ăn mòn hóa học, bền trong môi trường xâm thực, phát triển cường độ ngắn ngày nhanh, khả năng chịu nhiệt tốt, không sinh nhiệt trong quá trình đổ bê tông.
Tại Việt Nam, khối lượng bê tông xi măng (OPC) sử dụng trong các công trình cầu hiện nay là rất lớn, kết cấu dầm chủ yếu là OPC, kết cấu trụ thì gần như hoàn toàn là OPC. Các kết cấu nhịp cầu đa số là dầm OPC ứng suất trước (UST), do đó cần nghiên cứu áp dụng GPC UST vào trong công trình cầu sẽ góp phần giảm phát thải CO2. Khi thiết kế kết cấu BT UST thì việc xác định được mất mát ứng suất trước (MMUST) do ma sát, co ngắn đàn hồi, tụt neo, chùng dão, co ngót và từ biến là bắt buộc phải thực hiện, trong đó xác định được mất mát theo thời gian của co 2 ngót và từ biến là rất quan trọng và khó khăn. Các nghiên cứu về kết cấu GPC UST hầu như không thấy công bố.
Các nghiên cứu về biến dạng dài hạn do co ngót và từ biến của GPC trên thế giới đến nay vẫn còn ít, kết quả rất phân tán, trước đây cho kết quả nhỏ hơn của OPC nhưng gần đây một số nghiên cứu lại cho kết quả ngược lại là giá trị của GPC lại lớn hơn. Với những lý do nêu trên, việc tiến hành: “Nghiên cứu ảnh hưởng do co ngót và từ biến đến mất mát ứng suất trước của dầm cầu bê tông Geopolymer ứng suất trước chế tạo tại Việt Nam” là rất cần thiết. Mục đích của đề tài Nghiên cứu về MMUST do co ngót, từ biến của dầm cầu GPC UST, trong đó GPC sử dụng vật liệu ở Việt Nam. Mục tiêu của đề tài: (1) Tổng quan về nghiên cứu và ứng dụng GPC trên thế giới và ở Việt Nam.
(2) Nghiên cứu đề xuất đường quan hệ ứng suất - biến dạng khi nén của GPC sử dụng vật liệu tại Việt Nam. (3) Nghiên cứu thực nghiệm về co ngót, từ biến của GPC, đo đạc MMUST trong cáp UST do co ngót, từ biến theo thời gian của dầm GPC UST. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Quan hệ ứng suất biến dạng khi nén; MMUST do co ngót và từ biến của dầm cầu GPC UST. Phạm vi nghiên cứu: GPC được chế tạo từ các vật liệu của Việt Nam và GPC UST được áp dụng cho công trình cầu.
Phương pháp nghiên cứu 3 (1) Phương pháp nghiên cứu tài liệu: sử dụng để nghiên cứu tổng quan tài liệu nhằm kế thừa, tổng hợp, phân tích các nghiên cứu, ứng dụng GPC trong và ngoài nước. (2) Phương pháp lý thuyết: sử dụng các lý thuyết về bê tông; mô hình co ngót và từ biến; mất mát ứng suất trước do co ngót và từ biến trong dầm UST. (3) Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm: để xác định đường quan hệ ứng suất biến dạng, co ngót, từ biến, mất mát ứng suất trước do co ngót, từ biến theo thời gian. (4) Phương pháp xử lý thông tin: các thông tin định tính và định lượng được xử lý nhằm tìm ra các quy luật và các mối quan hệ phục vụ phân tích, so sánh kết quả nghiên cứu.
Đóng góp mới của luận án 1. Đã xác định được mô đun đàn hồi, cường độ chịu nén, quan hệ ứng suất - biến dạng, biến dạng dài hạn do co ngót và từ biến trong 180 ngày và so sánh kết quả biến dạng của GPC chế tạo tại Trường Đại học Xây dựng Hà Nội với mô hình co ngót và từ biến của OPC theo tiêu chuẩn AASHTO LRFD 2017. Kết quả thực nghiệm đo đạc MMUST do co ngót và từ biến (bỏ qua mất mát do chùng dão) trong thời gian 6 tháng trên mô hình dầm GPC UST tiết diện chữ T dài 10,4m. Luận án đã sử dụng các hệ số co ngót và từ biến, cường độ, mất mát ứng suất do co ngót và từ biến để tính toán dầm cầu liên hợp I33m bằng GPC, các kết quả tính toán được so sánh với dầm tương tự sử dụng OPC cho thấy rằng sự làm việc của dầm GPC UST tương tự như dầm OPC UST.
Ý nghĩa khoa học của đề tài. - Xác định được mô đun đàn hồi, cường độ chịu nén, quan hệ ứng suất biến 4 dạng của vật liệu GPC sử dụng vật liệu tại Việt Nam; - Các số liệu thực nghiệm về co ngót, từ biến của GPC, xác định đường cong thực nghiệm co ngót từ biến, so sánh với mô hình co ngót, từ biến của OPC theo tiêu chuẩn AASHTO LRFD 2017, TCVN 11823-5:2017 sẽ giúp cho chúng ta có nhận thức chính xác và rõ ràng hơn về GPC. - Kết quả đo đạc mất mát ứng suất trong cáp UST do co ngót, từ biến trên mô hình dầm GPC UST tiết diện chữ T dài 10,4m được đo liên tục trong thời gian 6 tháng kể từ khi chế tạo dầm là rất quý giá cho những người nghiên cứu và thiết kế dầm GPC UST. - Phân tích về MMUST do co ngót, từ biến trên mô hình cầu dầm giản đơn sử dụng GPC và OPC.
Nội dung của luận án được trình bày theo bố cục như sau: Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, các mục lục, luận án sẽ được bố cục thành 5 chương với cấu trúc và nội dung như sau: Mở đầu Chương 1: Tổng quan về việc nghiên cứu ứng dụng GPC trên thế giới và Việt Nam Chương 2: Cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Nghiên cứu thực nghiệm xác định mô đun đàn hồi, cường độ chịu nén, quan hệ ứng suất biến dạng, hệ số từ biến và co ngót của GPC Chương 4: Thiết kế, đúc dầm thí nghiệm, theo dõi MMUS trong cáp UST do co ngót và từ biến Chương 5: Áp dụng GPC vào cầu dầm UST nhịp giản đơn 33m, so sánh MMUST do co ngót và từ biến khi sử dụng GPC và OPC Kết luận 5 CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ VIỆC NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG GPC TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 1. Giới thiệu về GPC Theo nhà khoa học người Pháp Joseph Davidovits [49], GPC là loại bê tông không sử dụng xi măng làm chất kết dính (CKD), mà sử dụng nguồn vật liệu giàu khoáng Al2O3 và Si2O3 (alumino-silicat ) có trong xỉ lò cao và tro bay, được hoạt hóa trong môi trường kiềm làm CKD. Cấu trúc hình thành CKD geopolymer Có khá nhiều nghiên cứu trên thế giới về cơ chế động học phản ứng giải thích quá trình đông kết và rắn chắc của CKD kiềm hoạt hóa.
[50], cơ chế quá trình kiềm hoạt hóa bao gồm các phản ứng phân hủy nguyên liệu thành dạng cấu trúc ổn định thấp và phản ứng nội tại. Trước tiên là quá trình bẻ gãy các liên kết cộng hóa trị Si-O-Si và Al-O-Si khi pH của kiềm tăng lên. Vì thế những nhóm nguyên tố này được chuyển sang hệ keo. Sau đó xảy ra sự tích tụ các sản phẩm bị phá hủy với phản ứng nội tại giữa chúng tạo cấu trúc ổn định thấp, tiếp theo ở giai đoạn thứ 3 là quá trình hình thành cấu trúc đông đặc.
Vào năm 1978, Joseph Davidovits đã nghiên cứu phát triển và được nhận bằng sáng chế về CKD mêta cao lanh sử dụng kiềm hoạt hóa, sau này gọi là geopolymer. Tiếp đó, geopolymer được nghiên cứu rộng rãi với việc sử dụng hợp chất giàu alumino-silicat như tro bay, xỉ lò cao… được hoạt hóa kiềm làm CKD thay thế xi măng. Cấu trúc geopolymer có thể có một trong ba dạng cơ bản như (i) Poly (sialate) có (-Si-O-Al-O-) lặp lại, (ii) Poly (sialate-siloxo) có (-Si-O-Al- O-Si-O-) lặp lại, (iii) Poly (sialate-disiloxo) có (-Si-O-Al-O-Si-O-Si-O-) lặp lại [49]. Các dạng kết hợp khác nhau của poly (sialate) được chỉ ra trong Hình 1-1.
Các dạng cấu trúc phân tử của geopolymer [27] Theo Kumar và Mehrotra [67], từ kết quả phân tích nhiễu xạ tia X (XRD) của CKD tro bay hoạt hóa kiềm cho thấy pha tinh thể gốc không thay đổi theo phản ứng của chất kích hoạt. Một số thí nghiệm kiểm tra cho thấy xuất hiện khoáng thạch anh nhiều có thể do thành phần hạt cát còn lại ở mẫu. Thành phần zeolite cũng xuất hiện ở kết quả XRD dưới dạng khoáng hydroxysodalite (Na4Al3Si3O12OH) và herschelite (NaAlSi2O6. Khi phân tích ảnh bề mặt mẫu cho thấy trước khi hoạt hóa, tro bay có dạng hình cầu với kích thước khác nhau và chứa tinh thể mulit và sắt.
Sau khi hoạt hóa, có một số hạt cầu chưa phản ứng và gel aluminosilicat (có tỷ lệ mol Si/Al=1.8 và Na/Al=0.68) trong vữa chỉ chứa chất hoạt hóa là NaOH. Khi chất hoạt hóa có chứa nước thủy tinh thì sản phẩm cuối đặc hơn với tỷ lệ monl Si/Al=2.7 và Na/Al=1. Ranh giới giữa CKD và cốt liệu trong GPC (a, b) và OPC (c) [27] Đối với BTXM poóclăng thông thường thì vùng chuyển tiếp giữa hồ xi măng và cốt liệu có cấu trúc kết tinh, rỗng nhiều hơn, có các mặt nứt, vết nứt và cường độ nhỏ hơn vùng hồ [3] Hình 1-2. Chiều dày của lớp chuyển tiếp này là từ 20-100 m.
Đối với GPC tro bay, đặc điểm của ranh giới giữa CKD geopolymer và cốt liệu là không có vùng chuyển tiếp. Điều này trái ngược với BTXM poóclăng [56]. Do vậy, GPC tro bay có thể có tính chất cơ học cao hơn và độ bền tốt hơn BTXM thông thường. Những ưu nhược điểm của GPC Hiện nay GPC đã và đang được nghiên cứu rộng rãi do GPC có các tính chất kỹ thuật cho các công trình xây dựng và góp phần bảo vệ môi trường, với các ưu nhược điểm chính sau.
Ưu điểm + Về khả năng chịu lực, GPC sử dụng tro bay sớm đạt cường độ cao sau phản ứng kiềm (đạt 60-70 MPa sau 24h). + Co ngót và từ biến của GPC tro bay nhỏ. + GPC có khả năng chịu ăn mòn hóa học và tốt nhất là khả năng chịu axit.