MỞ ĐẦU Aflatoxin là nhóm hợp chất mang nhân difuranocumarin có độc tính và gây ung thư mạnh nhất trong các mycotoxin đã được phát hiện. Nó là sản phẩm trao đổi chất thứ cấp chủ yếu của hai loài nấm mốc Aspergillus flavus và Aspergillus parasiticus. Các aflatoxin thường được tìm thấy trong nhiều loại nông sản thực phẩm khác nhau như đậu phộng, cà phê, sữa, tương, thức ăn gia súc và các loại ngũ cốc khác… gây nguy hại cho sức khỏe của người và động vật. Theo một số nghiên cứu, aflatoxin có thể gây đột biến gen, gây ung thư đối với động vật.
Một số báo cáo ở Nam Á và Châu Phi còn cho thấy aflatoxin liên quan đến ung thư gan, viêm gan cấp tính, hội chứng Reye’s, bệnh sơ gan ở trẻ suy dinh dưỡng và gây chứng suy dinh dưỡng ở trẻ em [37]. Đứng trước những nguy cơ đó, nhu cầu kiểm soát hàm lượng aflatoxin có mặt trong các sản phẩm thực phẩm là vô cùng cấp thiết. Các phương pháp truyền thống góp phần kiểm soát hàm lượng aflatoxin như các biện pháp xử lý sau thu hoạch, chọn tạo giống cây trồng kháng nấm sinh aflatoxin hay các phương pháp phân tích aflatoxin… đã được sử dụng trong một thời gian dài. Tuy nhiên, các phương pháp này, dù phát triển đến đâu cũng chỉ cho phép phát hiện mốc ở giai đoạn muộn, khi các độc tố đã sinh ra và tồn tại trong các sản phẩm thực phẩm.
Những năm gần đây, một xu hướng mới đã được phát triển và tỏ ra khá hiệu quả trong việc kiểm soát hàm lượng aflatoxin ngay từ thời điểm mầm mống ban đầu, đó là việc sử dụng chính những chủng Aspergillus flavus không có khả năng sinh tổng hợp aflatoxin có tính cạnh tranh cao (các chủng đối kháng) làm tác nhân kiểm soát. Hiện nay trên thế giới cũng đã có những chế phẩm nấm đối kháng được cấp bằng sáng chế và được sử dụng rộng rãi trong nông nghiệp như chế phẩm Aspergillus flavus NGUYỄN THỊ THÚY HƯỜNG CNSH CH06-08 2 NRRL 21882 và chế phẩm Aspergillus flavus AF36 do các nhà khoa học thuộc bộ nông nghiệp Mỹ phân lập được. Các chủng nấm đối kháng kể trên tỏ ra khá hiệu quả khi kìm hãm được gần như hoàn toàn khả năng sinh aflatoxin của các chủng nấm mốc sinh aflatoxin. Tuy nhiên, khả năng đối kháng của các chủng nấm mốc này thay đổi theo điều kiện khí hậu từng vùng.
Do đó việc ứng dụng các chế phẩm nấm đối kháng một cách rộng rãi trên khắp thế giới gặp phải những khó khăn nhất định. Ở nước ta với khí hậu nóng ẩm là điều kiện rất thuận lợi cho các loài nấm mốc phát triển. Sự khác biệt về mặt nhiệt độ và thổ nhưỡng làm cho việc ứng dụng những chế phẩm nấm đối kháng của nước ngoài đem lại một kết quả không cao. Do đó nhất thiết cần phải phân lập được những chủng A.flavus không có khả năng sinh tổng hợp aflatoxin để sử dụng làm chế phẩm nấm đối kháng phù hợp với điều kiện nhiệt độ thổ nhưỡng của Việt Nam.
Dựa trên cơ sở đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu thu nhận chủng A.flavus không sinh độc tố aflatoxin nhằm tạo chế phẩm nấm đối kháng phù hợp với điều kiện nhiệt độ và thổ nhưỡng ở Việt Nam. Đây là một đề tài có tính khả thi cao và có khả năng được áp dụng rộng rãi trong thực tế. Nội dung nghiên cứu: 1. Phân lập các chủng A.flavus từ thóc lấy tại một số địa phương.
Sàng lọc các chủng A.flavus không sinh aflatoxin bằng kỹ thuật sắc ký bản mỏng (TLC) và PCR. Sàng lọc tiếp các chủng phân lập được ở trên bằng kỹ thuật PCR và kiểm tra khả năng đối kháng của các chủng không sinh với chủng sinh aflatoxin. Nghiên cứu tìm điều kiện tối ưu thu nhận sinh khối của chủng nấm mốc phân lập được. NGUYỄN THỊ THÚY HƯỜNG CNSH CH06-08 3 5.
Bước đầu nghiên cứu các điều kiện tạo chế phẩm nấm đối kháng từ chủng không sinh aflatoxin. NGUYỄN THỊ THÚY HƯỜNG CNSH CH06-08 4 PHẦN I TỔNG QUAN I. Tình hình nhiễm aflatoxin Nấm mốc có mặt khắp mọi nơi và thường phát sinh, phát triển trên các sản phẩm lương thực, thực phẩm, thức ăn gia súc…Bên cạnh việc nấm mốc gây hư hỏng, thối rữa, làm giảm chất lượng và giá trị sử dụng còn rất nhiều loài nấm mốc tiết ra các độc tố gây bệnh cho con người và vật nuôi như các mycotoxin, đặc biệt là các aflatoxin. Các aflatoxin là sản phẩm trao đổi chất chủ yếu của hai loài nấm A.
Đây là các hợp chất thứ cấp mang độc tính và có khả năng gây ung thư, tác động đến sức khỏe con người và vật nuôi. Các đối tượng lương thực thực phẩm dễ bị nhiễm aflatoxin gồm: - Ngũ cốc và các chế phẩm của chúng: ngô, thóc, lúa mỳ, lúa mạch, kê…, các sản phẩm xay sát của các loại ngũ cốc này. - Các loại hạt có dầu và những chế phẩm của chúng: hạt lạc, hạt bông, hạt hướng dương, hạt dưa, đậu tương, hạt điều, các loại khô dầu ép từ các loại hạt có dầu… - Các loại sữa và các sản phẩm chế biến từ sữa: các loại sữa hộp, bột sữa, bơ, pho mát… - Thịt, trứng, rau quả, đồ uống và các thực phẩm khác - Thức ăn gia súc… I. Tình hình nhiễm aflatoxin trên thế giới Theo một số nghiên cứu cho thấy sự nhiễm aflatoxin do A.flavus gây nên là một vấn đề nghiêm trọng ở Mỹ.
Những nghiên cứu cho thấy việc NGUYỄN THỊ THÚY HƯỜNG CNSH CH06-08 5 nhiễm A.flavus là do đất trồng ngô bị ảnh hưởng bởi những vụ canh tác trước.flavus trong đất trồng ngô cao nhất là 794 CFU/g năm 2001, trong đất trồng bông năm 2000 là 251 CFU/g, trong đất trồng lúa mì gối vụ năm 2002 là 457 CFU/g.flavus phân lập trong đất có khả năng tạo aflatoxin. Trong đó sự nhiễm cao nhất là ở quần thể đất của ngô gối vụ năm 2001. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy 84% A.flavus phân lập từ các hạt ngô có khả năng tạo aflatoxin. Ở Thái Lan, 35% mẫu ngô nhiễm AFB1 (mức trung bình là 400 µg/kg).
Trong khi 40% mẫu nhiễm AFB 1 được tìm thấy ở Uganda với mức nhiễm trung bình là 133 µg/kg và 97% mẫu ở đảo Cebu thuộc Philipin với mức nhiễm trung bình là 213 µg/kg. Hàm lượng aflatoxin trong các mẫu ngô ở gia đình đã liên quan đến sự bùng nổ bệnh gan độc tố cấp tính ở tây bắc Ấn Độ. Ở Thái Lan 80-85% số mẫu ngô thu thập từ các kho bảo quản trong mùa mưa 1984-1985 đã nhiễm AFB1 với lượng từ một vài đến vài trăm ppb. Nghiên cứu về lạc bóc vỏ ở Mỹ cho thấy 15% của 361 mẫu có aflatoxin giới hạn từ vết đến 50 µg/kg.
Ở Đan Mạch phát hiện 86,5 % trong số 52 mẫu của các sản phẩm lạc nhập vào nước này làm thức ăn gia súc có chứa aflatoxin, một mẫu có 3465 µg/kg. Các aflatoxin được tìm thấy ở 41% của 173 số mẫu lạc ở Sudan, 16 mẫu có trên 250 µg/kg và 9% số mẫu có trên 1000 µg/kg. Ở Philipin, tất cả các mẫu bơ lạc được kiểm tra năm 1967-1969, có aflatoxin với giá trị 155 µg/kg. Các nhà khoa học Nhật Bản đã điều tra sự nhiễm các nấm A.flavus sinh aflatoxin trong đất ở các vùng sinh thái khác nhau của Nhật cho thấy, A.flavus chỉ tìm thấy duy nhất ở bán đảo Okinawa, nơi có khí hậu gần với khí hậu nhiệt đới nhất.
NGUYỄN THỊ THÚY HƯỜNG CNSH CH06-08 6 Hiện nay, nhiều quốc gia như Ấn Độ, Mỹ, Thái Lan… đã có chiến lược phòng chống giảm tổn thất do aflatoxin gây nên cho ngô và lạc ở các giai đoạn trước và sau thu hoạch. Mối quan tâm đến sức khỏe con người và vật nuôi đã đưa đến việc điều chỉnh giới hạn lượng aflatoxin cho phép trong thực phẩm và thức ăn động vật ở hầu hết các nước trên thế giới [37]. - Theo WHO và FAO, aflatoxin trong sữa nên dưới 0,5 µg/kg. - Tổ chức dược phẩm và thực phẩm Mỹ quy định aflatoxin không vượt quá 20 µg/kg trong thực phẩm ăn được và 30 µg/kg đối với thức ăn cho động vật.
- Ở Trung Quốc mức aflatoxin có thể chấp nhận được là 20 µg/kg đối với ngô, lạc nhân, dầu lạc; 10 µg/kg đối với gạo, dầu ăn và đối với các thực phẩm khác là 5µg/kg… I. Tình hình nhiễm aflatoxin ở Việt Nam Ở nước ta, với đặc điểm khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, độ ẩm trong không khí thường cao, thời vụ canh tác và thu hoạch thường rơi vào mùa mưa. Trong khi các phương tiện thu hoạch, phơi sấy nông sản kém, kho chứa không đảm bảo khô ráo thoáng mát tạo điều kiện thuận lợi cho nấm mốc phát triển gây nhiễm độc tố cho lương thực thực phẩm và thức ăn chăn nuôi. Cũng như nhiều nước trên thế giới, Việt Nam cũng đưa ra quy định giới hạn aflatoxin nhiễm trong thực phẩm.
NGUYỄN THỊ THÚY HƯỜNG CNSH CH06-08 7 Bảng 1. Giới hạn độc tố vi nấm (Mycotoxin) trong thực phẩm Giới hạn nhiễm tối STT Tên độc tố vi nấm Sản phẩm đa cho phép (ppb) 1 Aflatoxin tổng số hoặc B1 Thức ăn 10 2 Aflatoxin M1 Sữa 0.5 3 Các độc tố vi nấm khác Thức ăn 35 (Theo Quyết định 867/QĐ-BYT/1998 của Bộ Y tế ) Theo một số khảo sát cho thấy mức độ nhiễm aflatoxin ở Việt Nam khá cao và có sự khác nhau giữa các vùng miền: Viện Vệ sinh y tế công cộng tại TP Hồ Chí Minh cũng đã từng kiểm nghiệm 115 mẫu thực phẩm (gồm đậu phộng, da cá, kẹo đậu phộng, nước tương làm từ đậu nành, đồ hộp chay làm từ các loại đậu và bột mì, cà phê, thức ăn gia súc…) lưu hành trên thị trường và phát hiện aflatoxin có trong 30% mẫu cà phê; 42,9% mẫu nước tương; 66,7% mẫu đồ hộp chay; 68,2% mẫu đậu phộng và sản phẩm từ đậu phộng. - Theo khảo sát của Nguyễn Phụng Tiến (1992) nhận thấy tỷ lệ nhiễm aflatoxin trên ngô bị mốc ở miền Nam và miền Bắc khá cao từ 73,3%- 95,5% với hàm lượng từ 16-100 ppb. - Luco và cộng sự (1971) đã kiểm tra 193 mẫu gạo ở miền Nam-Việt Nam thấy có 31 mẫu nhiễm aflatoxin.
- Theo báo cáo kiểm tra khả năng nhiễm aflatoxin của Viện dinh dưỡng Hà Nội (1994 – 1995) cho thấy: ở lạc có 23% nhiễm aflatoxin với nồng độ từ 1,6 - 17,4 ppb/kg. Riêng lạc mốc có 100% nhiễm aflatoxin với NGUYỄN THỊ THÚY HƯỜNG CNSH CH06-08 8 nồng độ 26,3 -175 ppb/kg. Sữa bò tươi có 50% nhiễm aflatoxin với nồng độ 0,05- 0,1 ppb/kg. Bột đậu nành trẻ em có 25% bị nhiễm từ 14,5-18,2 ppb/kg.
Trà uống có 27% nhiễm aflatoxin ở mức độ vết .