Chương 1 TONG QUAN 1. Giới thiệu về giống vit Huba Vịt Huba gốc được coi là giống bản địa ở lưu vực Carpathian từng được tìm thấy chủ yêu ở màu trắng và màu hoang da, hiếm khi có mau đốm, nâu hoặc đen. Vì thịt thơm ngon, mọng nước, vịt Huba được nuôi trên khắp đất nước và được tiêu dùng trong nước rất quan tâm. Tuy nhiên, bắt đầu từ đầu những năm sáu mươi, vịt Huba dần biến mất đo lai tạo với các giống vịt nhập khẩu.
Từ năm 2004 về trước, không có chương trình bảo tồn vịt Huba và vịt Huba đã bị coi là tuyệt chủng. Tuy nhiên, Viện Nghiên cứu Động vật Nhỏ (KÁTKI) đã thu thập một số cá thé vịt địa phương màu trắng và lông màu hoang đã từ Transylvania và hiện chỉ có một quân thê vịt Huba được bảo tồn trong chương trình bảo tồn gia cầm của mình. Một chương trình nhân giống khác của giống vịt Huba lông màu hoang dã, được thu thập ở Đông Hungary, đã được bắt đầu bởi Szarvasi Kacsafarm Ltd. Có hai giống vịt Huba, một giống lông có mảu trắng và một giống lông màu cánh sẻ đều đã được bảo tồn nuôi giữ tại Viện Nghiên cứu Động vật Nhỏ (KATKD và duy trì trong ngân hàng gen in vivo của HáGK.
Nhóm vịt nhập về Việt Nam là vit lông màu cánh sẻ. Vịt trưởng thành có khối lượng cơ thé con trồng 2,5 - 3,0 kg, con mái 2,3 - 2,8 kg. Vịt trồng và vịt mái khi trưởng thành có màu đặc trưng riêng. Vit mới nở màu lông chu đạo den, lông đỉnh đầu và lưng đen, trên lưng có đốm vàng, long phần dưới cổ và ức màu vàng nhạt.
Có sọc lông đen ở mat vịt, trên và đưới mắt lông vàng nhạt. Chân vịt màu đen và vàng nhạt. Vịt mái trưởng thành lông cánh sẻ, lông cánh màu xanh đen có điểm lông màu trắng ở đầu cánh, đa phần có sọc lông nâu và trắng nhạt ở mắt, chân màu vàng nhạt, mỏ màu xám đen và vàng nhạt. Vịt trống trưởng thành thân có màu long xám đá, lông cánh màu xanh, cô có khoang trắng, lông đầu màu xanh rất đẹp, mỏ có màu xám hoặc vàng nhạt, chân màu vàng nhạt.
ame rs os moe Hình 1. Vịt Huba 22 tuần tuổi 1. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của vịt 1. Yếu tố di truyền Giống, dòng là yếu tố về mặt di truyền quan trọng nhất ảnh hưởng đến tốc độ tăng khối lượng cơ thé của vịt.
Vịt có tốc độ tăng trưởng cao nhất ở những tuần đầu tiên đến tuần thứ 7 - 8, chúng có thé đạt đến 70 - 80 % khối lượng cơ thé trưởng thành. Trong cùng một giống, các dòng khác nhau có tốc độ tăng khối lượng cơ thê cũng khác nhau. Khối lượng cơ thé là một tính trang quan trọng dé đánh giá khả năng sinh trưởng, nó chính là sự tích lũy của quá trình sinh trưởng tại một giai đoạn nuôi nhất định. Những giống vịt chuyên thịt thường vượt trội về các tính trạng sinh trưởng và năng suất thịt hơn các giống vịt còn lại.
Báo cáo của nhiều tác giả cho thấy khối lượng cơ thê ở tuổi chuẩn bị vào đẻ của các giống vịt có sự khác biệt có thể lên trên 300 %. Tại trại vịt giống Vigova các dòng trống V22 có khối lượng cơ thể vào đẻ con trống 4099 g trong khi dòng mái V27 có khối lượng cơ thé vào đẻ con trông 3659 g, con mái là 3320 g Dương Xuân Tuyền va ctv (2016). Trong cùng một giống thì dòng trồng có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn dòng mái. Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đức Trọng và ctv (2011) trên vịt CV.
Super M3 nuôi tại Trung tâm Nghiên cứu vịt Đại Xuyên lúc 8 tuần tuổi vịt dong trống con trồng có khối lượng là 2801,9 g/con, vịt mái là 1864,7 g/con; ở vit dong mái khối lượng của vịt trống là 1965,2 g/con và khối lượng của vịt mái là 1693,2 g/con. Khi lai các dòng, giống với nhau thì con lai thường vượt các đạng bố mẹ ban đầu về sinh trưởng, về khả năng sử dụng chất dinh dưỡng, sức chống chịu bệnh tật. Ưu thế lai làm tăng năng suất đời con do giao phối không đồng huyết và nuôi trong những điều kiện khác nhau. Trong chăn nuôi vịt, người ta thường sử dụng biện pháp nuôi các giéng ngoại nhập có năng suất thịt cao để cải tạo các giống địa phương thường có năng suất thấp, tiêu tốn thức ăn cao nhưng lại có chất lượng thịt thơm ngon.
Theo Ngô Văn Vĩnh và ctv (2008) con lai giữa ngan và vịt ở 8 tuần tuổi có khối lượng cơ thé đạt 3150,0 g/con và khi nuôi đến 10 tuần tuổi đạt 3402,7 g/con. Ở vịt, giữa hai loại tính biệt có sự khác nhau về khả năng sinh trưởng, nguyên nhân là do tính biệt khác nhau nên đặc điểm và chức năng sinh lý cũng khác nhau. Trong cùng một giống, một dòng thi sự sinh trưởng của con trống nhanh hơn con mái. Theo Dương Xuân Tuyên va ctv (2006), vịt bố mẹ V17 có khối lượng cơ thé lúc 21 tuần tuôi ở vịt trống đạt 3578,3 g/con và vịt mái là 3309,0 g/con.
Kết quả nghiên cứu trên vit CV. Super M3 nuôi tại Trạm Nghiên cứu Thủy cầm Cẩm Bình cho thấy ở § tuần tuổi trống A có khối lượng 2523 g/con, mái B có khối lượng cơ thé là 2183 g/con; 20 đến 24 tuần tuôi khối lượng cơ thé của trống A đạt 4377,68 g/con và mái B là 3768,35 g/con Phùng Đức Tiền va ctv (2009). Đây cũng là cơ sở trong xây dựng quy trình nuôi dưỡng vit sinh sản, trong đó vịt trống và vịt mái được nuôi dưỡng theo các định mức ăn với tiêu chuan khối lượng khác nhau theo từng tuần tuôi. Người ta thường căn cứ vào tốc độ mọc lông của vịt để xem xét sự sinh trưởng, phát dục của chúng.
Tốc độ mọc lông cũng là một trong những tính trạng di truyền có liên quan chặt chẽ đến đặc điểm trao đôi chất, sinh trưởng, phát triển và là chỉ tiêu đánh giá sự thành thục cua vit. Vit có tốc độ mọc lông nhanh thì sự thành thục về thé trạng sớm và chất lượng thịt cũng tốt hơn vịt có tốc độ mọc lông chậm. Giữa tốc độ mọc lông va khả năng sinh trưởng của cơ thé vịt có mối tương quan thuận. Yếu tố ngoại cảnh Chế độ dinh dưỡng cung cấp vật chất cho quá trình xây dựng cơ thể, nền tảng cho sinh trưởng của vật nuôi.
Đặc biệt, đối với vịt con, đo không bú sữa mẹ như động vật có vú nên giá trị dinh dưỡng của thức ăn ở giai đoạn đầu có tác dụng quyết định đến khả năng sinh trưởng và khối lượng cơ thê của chúng sau này. Do vậy, việc xác định nhu cầu các chất dinh dưỡng hay chế độ dinh dưỡng hợp lý cho vịt là hết sức cần thiết và có ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ sinh trưởng cũng như hiệu quả kinh tế. Nhiệt độ môi trường nuôi ảnh hưởng đến khả năng thu nhận thức ăn. Vịt không có tuyến mồ hôi, do đó sự điều hòa thân nhiệt của chúng chủ yếu thông qua quá trình thở, bốc hơi nước, bức xạ nhiệt và bài tiết cho nên mọi yếu tô tác động đến quá trình điều hòa thân nhiệt điều ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của chúng.
Trong điều kiện nuôi tự nhiên ở nước ta, việc đảm bảo yêu cầu nhiệt độ trong chăn nuôi vịt rất khó vì nhiệt độ môi trường chênh lệch nhau giữa mùa đông và mùa hè là khá cao. Mùa hè có nhiệt độ cao đặc biệt ở các nước nhiệt đới, cận nhiệt đới sẽ ảnh hưởng đên các tính trạng năng suất của vịt. Mùa đông, nhiệt độ thấp có thể khắc phục bằng cách che chắn nhưng lại làm giảm độ thông thoáng của chuồng nuôi, khiến vịt dé mắc bệnh về đường hô hap. Nhiệt độ chuồng nuôi cần có gắng ôn định suốt ngày đêm, đó là một trong những yếu tố vô cùng quan trọng đối với vịt con, đặc biệt là trong tuần tuổi đầu tiên.
Nếu tuần đầu không đảm bảo nhiệt độ cho chúng, về sau đàn vit sẽ phát triển không đều, dé cảm nhiễm bệnh tật và tốc độ sinh trưởng giảm. Khi âm độ quá thấp hoặc quá cao cũng ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của vịt. Một đặc tính của thủy cầm là khi ăn cần có nước đi kèm, chính vì vậy trong điều kiện chăn nuôi công nghiệp chuồng nuôi thủy cầm thường âm ướt. Âm độ quá thấp làm tăng lượng bụi có thể gây ảnh hưởng đến khả năng hô hấp và mắt của vịt ảnh hưởng đến khả năng thu nhận thức ăn, không những gây khô đa, khó chịu làm con vật gầy yếu.
Ánh sáng có vai trò rất quan trọng, ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng, lượng thức ăn, tỷ lệ tử vong, hiệu suất chuyên hóa thức ăn. Thời gian chiếu sáng thích hợp sẽ làm tăng lượng thức ăn thu nhận, nhưng lại làm giảm hiệu quả chuyền hóa thức ăn. Phương thức nuôi là một yếu tố ngoại cảnh tổng hợp, nên nó có sự ảnh hưởng rất lớn đến các tính trạng năng suất trong chăn nuôi vịt. Dựa trên tiêu chí về chuồng nuôi, Lê Thanh Hải (2015) báo cáo đối với nuôi vịt nhốt trên cạn tại Nam bộ có tới 5 kiểu chuồng trại khác nhau đó là nuôi vịt trong chuồng kín (chuồng lạnh), nuôi nhốt trong chuồng nền hở, nuôi nhốt trong chuồng san hở, nuôi vịt trong hệ thống chuồng hở có sân chơi, nuôi vịt trong vườn cây có chuồng.
Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của vịt 1. Yếu tố di truyền Các giống, dòng khác nhau thì năng suất trứng sẽ khác nhau. Giống là yếu tô có ảnh hưởng lớn đến các tính trạng năng suất của đa số các đối tượng vật nuôi. Dựa trên tiêu chí, hướng sử dụng và tính trạng năng suất người ta chia thành giống vịt chuyên thịt, giống vịt chuyên trứng và giống vịt kiêm dụng.
Những giống vịt hướng trứng có năng suất cao hơn các giống vịt chuyên thịt và kiêm dụng. Đối với gia cầm, trong mỗi giống thường có từ 2 dòng khác nhau trở lên. Sự ảnh hưởng của dòng đến các tính trạng cũng rất lớn nhưng thường thấp hơn mức độ ảnh hưởng của giống. Ở giống vịt chuyên thịt các dòng trống có đặc điểm khối lượng cơ thể lớn, sinh trưởng nhanh tiêu tốn thức ăn cho tăng khối lượng cơ thể thấp trong khi các dòng mái có tuổi đẻ sớm hơn, năng suất trứng cao, tiêu tốn thức ăn cho sản xuất trứng thấp, tỷ lệ ấp nở cao hơn dòng trồng.
Tuổi thành thục về tính của vịt có ảnh hưởng rõ ràng đến sản lượng trứng trong chu kỳ đẻ đầu và các chu kỳ đẻ tiếp theo.