Chương 1 TONG QUAN 1.1 Giới thiệu sơ lược giống gà BT Giống ga BT lấy tên hai chữ viết tắc là Binh Thang đơn vị chăn nuôi trực thuộc của Viện Khoa Học Nông Nghiệp Miền Nam, đây là một giống gà lông màu thả vườn được nghiên cứu chọn tạo ra từ những năm 1995 với nguồn nguyên liệu ban đầu là một số dòng gà lông màu nhập khâu từ Pháp và nguồn một số giống ga bản địa Việt Nam với sơ đồ tạo dòng như sau: 3 Goldline 54 x 9Tau Vàng địa phương 3 Sasso x 2 BT1 | BT2 Một số đặc điểm ngoại hình đặc trưng của gà BT1 là mào đơn, màu lông vàng nâu, có sọc xám đen trên cánh và đuôi, chân cao và da vàng. Gà BT2 có đặc điểm là mào đơn, màu lông màu vàng sáng, chân cao, da vàng và có khả năng sinh trưởng tốt. Chỉ tiêu kỹ thuật của 3 thế hệ đầu theo báo cáo của Lê Thanh Hải và cs (2001) cho thấy: Khối lượng dòng I, II, II, IV tương ứng 2.608 g; Tuôi đẻ đầu tiên của 4 dong là 144-147 ngày; sản lượng trứng cả bốn dòng I, II, II, IV tương ứng: 152 quả, 189 quả, 179 quả và 178 quả. Từ thế hệ thứ 4, dựa vào năng suất của con lai thương phẩm dòng mái III và IV bị loại bỏ và giữ lại 1 dong trống va 1 dòng mái, tiếp tục nuôi giữ và chọn lọc để cải thiện nâng cao năng suất, chất lượng.Tuy nhiên sau nhiều thế hệ nuôi giữ quần thể thì năng suất và chất lượng đàn gà đã giảm nhiều và hiện nay Phân Viện Chăn Nuôi Nam Bộ tiếp lục chọn lọc nâng cao năng suất giống gà này theo hướng tao dong gà mái có năng suất cao hơn dé phối với trong các giống gà Ta trong nước tao ra gà thịt thả vườn chất lượng thịt thơm ngon nhưng năng suât cao hơn các giông gà bản địa.1 Giống gà BT nuôi tại trại gà Đồng Nai 1.2 Cơ sở khoa học của chọn lọc 1.1 Cơ sở di truyền của các tính trạng số lượng Tính trạng số lượng là các tính trạng có thể đo lường được bằng các đơn vị đo đếm cụ thé.
Day thường là các chỉ tiêu kinh tế quan trong dé đánh giá phâm chất của giống. Theo quan điểm di truyền học, hầu hết các tính trạng sản xuất của gia cầm đều là các tính trạng sỐ lượng, bao gồm: sinh trưởng và sản xuất thịt, sinh sản và sản xuất trứng. Các tính trạng số lượng do giá trị kiểu gen và sai lệch môi trường quy định. Giá trị kiểu di truyền (genotype value) do các gen có hiệu ứng riêng biệt nhỏ, nhưng khi tập hợp nhiều gen thì có ảnh hưởng rõ rệt đến tính trạng, chúng gây ra các hiệu ứng cộng gộp, trội và át gen.
Tính trạng số lượng chịu tác động lớn do các tác động của ngoại cảnh. Theo Đặng Vũ Bình (2002), dé hiển thị đặc tính của những tính trạng số lượng người ta sử dụng khái niệm giá trị, đó là các số đo dùng để đánh giá các tính trạng số lượng. Các giá trị thu được khi đánh giá một tính trạng số lượng ở con vật gọi là giá trị kiểu hình. Các giá trị có liên quan đến tác động của các gen gọi là giá trị kiểu di truyền (genotype value) và giá trị có liên hệ với môi trường gọi là sai lệch môi trường (environmental deviation).
Như vậy, giá trị kiểu hình của con vật được biểu thi thông qua giá trị kiêu gen và sai lệch của môi trường: P=G+E Trong đó: P: là giá trị kiểu hình G: là giá trị kiêu di truyền E: sai lệch môi trường Trong một quân thể, sai lệch ngoại cảnh trung bình của toàn bộ các cá thể sẽ bằng không, do vậy giá trị kiểu hình trung bình của quan thé sẽ bang giá trị kiểu di truyền trung bình. Như vậy, trung bình quần thẻ liên quan đến giá trị kiểu hình hoặc giá trị kiểu đi truyền. Giá trị kiều di truyền của tính trạng SỐ lượng do nhiều gen có hiệu ứng nhỏ quy định, đó là các gen mà hiệu ứng riêng biệt của từng gen thì rất nhỏ nhưng tập hợp nhiều gen nhỏ thì ảnh hưởng rất lớn đến các tính trạng cần nghiên cứu, đây là hiện tượng đa gen. Giá trị kiểu di truyền hoạt động theo 3 phương thức: Cộng gộp, sai lệch trội-lặn va at chế gen (sự tương tác giữa các gen).
Do đó, giá trị kiểu di truyền được biểu diễn thông qua công thức: G=A+D+tI Trong đó: G: giá trị kiểu di truyền A: giá trị cộng gộp D: sai lệch trội- lặn I: sai lệch do tương tác giữa các gen Giá trị cộng gộp (giá trị giống - A) là phan giá trị kiểu hình của cá thê có thé di truyền được cho thé hệ sau. Sai lệch trội lặn (D) là khi xem xét trên một locus, sai lệch trội D được sinh ra từ tác động qua lại giữa các allen tại một locus. Theo quan điểm thống kê, sai lệch trội là tương tác giữa hai allen hoặc tương tác trong locus, nó biểu thị ảnh hưởng của việc đặt hai gen thành một cặp dé cấu thành kiểu di truyền, anh hưởng nay không bao gồm ảnh hưởng riêng rẽ của từng gen trong số hai gen này. Sai lệch tương tác của các gen (I) là sai lệch do tương tác của các gen không cùng một locus, các locus có thể tương tác theo từng đôi hoặc ba, bốn, thậm chí nhiều hơn nữa, tương tác cũng có thé xảy ra giữa các allen (giữa hai hay nhiều allen khác locus, ở locus này với cặp allen ở locus khác.
Sai lệch này thường thấy trong di truyền các tính trạng số lượng, còn đối với di truyền theo Mendel thì ít thấy hơn. Môi trường (E) có ảnh hưởng rất lớn đến các tính trạng số lượng, còn đối với các tính trạng chất lượng do ít cặp gen quy định nên môi trường ít bị ảnh hưởng. Ảnh hưởng của môi trường đến các tính trạng số lượng bao gồm: Sai lệch ngoại cảnh chung (Eg), là sai lệch do các yếu tố ngoại cảnh tác động đến quần thê. Sai lệch ngoại cảnh riêng (Es), là các sai lệch do các yếu tố ngoại cảnh tác động đến từng cá thé trong quan thé.
Một cách tông quát, nêu không xem xét đến sự tương tác giữa di truyền và ngoai cảnh thì giá trị kiểu hình của cá thé đó được biểu thị như sau: P=A +D +I +Eg +Es Điều nay có nghĩa là muốn cai tiến khả năng sản xuất của vật nuôi, cần phải tác động vào kiểu gen (G) bằng cách tác động vào hiệu ứng cộng gộp (A) thông qua chọn lọc, tác động vào các hiệu ứng trội (D) và at gen (I) bằng biện pháp lai giống, tác động vào môi trường (E) bằng cách cải thiện các điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh thú y, chuồng trai,. Theo Dang Vũ Binh (2002), trong các thành phan tac động trên, chi có ảnh hưởng đi truyền cộng gộp A là được di truyền cho thế hệ sau và được quan tâm chọn lọc. Mỗi cá thể ở thế hệ con chỉ nhận được một giao tử đơn bội thể (n) từ mỗi bên cha mẹ của chúng. Trong quá trình giảm phân hình thành giao tử, mỗi gen (allele) trong các cặp gen của cha mẹ được tách ra chuyền vào một giao tử và khi đó tương tác trội sẽ bị phá vỡ.
Do đó, các ảnh hưởng di truyền trội do tương tác của các cặp gen tại cùng một locus sẽ không được di truyền cho thế hệ sau. Đồng thời, trong quá trình hình thành giao tử việc tái tổ hợp của các gen cũng sẽ phá vỡ các tương tác giữa các gen tại các locus khác nhau, ngoại trừ một số trường hợp các gen được liên kết chặt chẽ với nhau trong quá trình di truyền. Tuy nhiên, các liên kết gen này rất hiém và ảnh hưởng không đáng kể. Do đó, giá trị giống của con vật được định nghĩa chính là giá trị di truyền cộng gdp của con vật đó, hay nói cách khác chính là giá tri của các gen của con vật ảnh hưởng đến đời con của nó.
Trong thực tế chúng ta chỉ có thé đo lường được giá trị kiểu hình, nhưng chúng ta lại mong muốn ước tính giá trị giống. Đối với việc chọn lọc một tính trạng đơn lẻ, giá trị giống được ước tính (Estimated Breeding Value- viết tắt là EBV) dựa trên phần chênh lệch của năng suất cá thể so với năng suất trung bình của các con cái của nó do đi truyền mang lại được thé hiện trong công thức sau: EBV = h? (Pj - tu) Trong do: EBV: giá trị giéng của con vat h? : hé s6 di truyén cua tinh trang chon loc Pi: gia trị kiểu hình của con vật u: giá trị kiêu hình trung bình của nhóm tương đồng Van dé mau chốt trong việc dự đoán giá trị giống từ các giá trị kiểu hình quan sát được là tách phần ảnh hưởng của di truyền ra khỏi các ảnh hưởng của ngoại cảnh. Theo ngôn ngữ thống kê học, đó là việc ước tính đồng thời giá trị của các yếu tô ảnh hưởng cố định (ngoại cảnh) va dự đoán giá trị của yếu tố ảnh hưởng ngẫu nhiên (giá trị di truyền cộng gộp). Dé giải quyết vấn đề này, phương pháp BLUP (Best Linear Unbiased Prediction — Dự đoán tuyến tinh vô tư và tốt nhất) là phương pháp tiên tiến hiện nay cho phép hiệu chỉnh giá trị di truyền cộng gộp của con vật theo các ảnh hưởng ngoại cảnh cố định như mùa vụ, chăm sóc nuôi dưỡng, giới tính, lứa đẻ và các yếu tố khác.
Chính vì vậy, phương pháp BLUP dự đoán giá trị giống chính xác hơn nhiều so với các phương pháp chọn lọc kiểu hình trước đây. Mặt khác, phương pháp BLUP sử dụng tất cả các nguồn thông tin về hệ phả nên bản thân các giá trị giống dự đoán là các chỉ số kết hợp nhiều nguồn thông tin về năng suất của tô tiên, anh chị em và bản thân cá thể. Hơn thế nữa, phương pháp BLUP có thể ước lượng giá trị giống cho những cá thé không có số liệu hay các tính trạng không thé do lường trực tiếp trên con vật, do phương pháp này sử dụng thông tin từ những con vật trong hệ phả và ma trận tương quan di truyền giữa các tính trạng.2 Các tham số di truyền Các tham số di truyền có ý nghĩa quan trọng và thường được sử dụng trong chọn lọc và nhân giống vật nuôi là hệ số đi truyền và hệ số tương quan di truyền.1 Hệ số di truyền Hệ số di truyền là tỷ lệ của phần do gen quy định trong việc tạo nên giá trị kiểu hình (Nguyễn Văn Thiện, 1996).