Chương 1: Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu. - Chương 2: Thực trạng chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của KH đối với chất lượng dịch vụ xử lý chất thải tại Công ty CP dịch vụ Sonadezi. - Chương 3: Giải pháp nâng cao sự hài lòng của KH đối với dịch vụ xử lý chất thải tại Công ty CP dịch vụ Sonadezi. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1 Một số khái niệm 1.1 Dịch vụ - Các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực marketing và kinh doanh đưa ra rất nhiều khái niệm về dịch vụ, nhưng khái niệm được trích dẫn phổ biến nhất là của nhà nghiên cứu V.J Bitner (2000) "Dịch vụ là những hành vi, quá trình và cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho KH, làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của KH".
- Như vậy, dịch vụ có thể được hiểu là một hoạt động bao gồm các nhân tố không hiện hữu, giải quyết các mối quan hệ giữa KH hoặc tài sản mà KH sở hữu với người cung cấp mà không có sự chuyển giao quyền sở hữu. - Dịch vụ là một sản phẩm đặc biệt có nhiều đặc tính khác với các loại hàng hóa khác như tính vô hình, tính không đồng nhất, tính không thể tách rời và tính không thể cất trữ. Chính những đặc tính này làm cho dịch vụ trở nên khó định lượng và không thể nhận dạng bằng mắt thường được.2 Chất lượng dịch vụ - Hiện nay, có nhiều khái niệm khác nhau về chất lượng dịch vụ nhưng nhìn chung người ta định nghĩa chất lượng dịch vụ là những gì mà KH cảm nhận được. Mỗi KH có nhận thức và nhu cầu cá nhân khác nhau nên cảm nhận về chất lượng dịch vụ cũng khác nhau.
- Theo Parasuraman (1985, 1988), chất lượng dịch vụ được xác định bởi sự khác biệt giữa sự mong đợi của KH về dịch vụ và đánh giá của họ về dịch vụ mà họ nhận được. Sau đó, SERVQUAL tiếp tục được hoàn thiện thông qua việc tập trung vào khái niệm về sự cảm nhận chất lượng của người tiêu dùng vì sự cảm nhận chất lượng của KH là việc đánh giá có tính khách quan nhất về chất lượng của dịch vụ.3 Chất thải và xử lý chất thải 6 - Chất thải: là những vật và chất mà người dùng không còn muốn sử dụng và thải ra. Tuy nhiên, trong một số ngữ cảnh nó có thể là không có ý nghĩa với người này nhưng lại là lợi ích của người khác, chất thải còn được gọi là rác. Trong cuộc sống, chất thải được hình dung là những chất không còn được sử dụng cùng với những chất độc được xuất ra từ chúng (Nguyễn Đức Khiển, 2010).
- Theo Luật BVMT số 72/2020/QH14: “Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí hoặc ở dạng khác được thải ra từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác”. - Xử lý chất thải: là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật (khác với sơ chế) để làm giảm, loại bỏ, cô lập, cách ly, thiêu đốt, tiêu hủy, chôn lấp chất thải và các yếu tố có hại trong chất thải. Như vậy, để giảm thiểu tác hại của chất thải đến môi trường thì chúng cần được xử lý.4 Sự hài lòng của KH - Theo Philip Kotler (2003), sự hài lòng của KH là mức độ của trạng thái cảm giác của một người bắt nguồn từ việc so sánh kết quả thu được từ việc tiêu dùng sản phẩm/dịch vụ với những kỳ vọng của anh ta. Mức độ hài lòng phụ thuộc sự khác biệt giữa kết quả nhận được và kỳ vọng, nếu kết quả thực tế thấp hơn kỳ vọng thì KH không hài lòng, nếu kết quả thực tế tương xứng với kỳ vọng thì KH sẽ hài lòng, nếu kết quả thực tế cao hơn kỳ vọng thì KH rất hài lòng.
Kỳ vọng của KH được hình thành từ kinh nghiệm mua sắm từ bạn bè, đồng nghiệp, từ những thông tin của người bán và đối thủ cạnh tranh. - Theo Oliver (1997), sự hài lòng của KH có nghĩa là sự phản ứng, sự phán xét của KH đối với sản phẩm hoặc dịch vụ. Trong khi đó, Zeithaml và Bitner (2001) cho rằng: Sự hài lòng là sự đánh giá của KH về sản phẩm hoặc dịch vụ trong suốt khoảng thời gian sản phẩm và dịch vụ làm hài lòng nhu cầu và mong muốn của họ. - Nghiên cứu của Brown & ctg (1992) chỉ ra: Sự hài lòng của KH là một trạng thái trong đó những gì KH cần, muốn và mong đợi ở sản phẩm và gói dịch vụ được hài lòng hay vượt quá sự hài lòng.
Kết quả là có sự mua hàng lập lại, lòng trung thành và giá trị của lời truyền miệng một cách thích thú. Còn Bachelet (1995) thì 7 định nghĩa: Sự hài lòng của KH là một phản ứng mang tính cảm xúc của KH, đáp lại với kinh nghiệm của họ với một sản phẩm hoặc dịch vụ. - Như vậy, có khá nhiều quan điểm về sự hài lòng của KH. Mỗi quan điểm đứng trên những khía cạnh khác nhau nhưng nhìn chung đều đi đến một kết luận là đem lại sự hài lòng của KH chính là mục tiêu phấn đấu liên tục của bất kỳ doanh nghiệp, bất kỳ tổ chức nào để có thể thành công và phát triển.
- Theo một số nhà nghiên cứu có thể phân loại sự hài lòng của KH thành ba loại và chúng có sự tác động khác nhau đến nhà cung cấp dịch vụ: hài lòng tích cực, hài lòng ổn định và hài lòng thụ động. - Ngoài việc phân loại sự hài lòng của KH thì mức độ hài lòng cũng ảnh hưởng rất lớn đến hành vi KH. Vì khi mức độ hài lòng chỉ ở mức tạm hài lòng thì họ cũng có thể tìm đến các Công ty khác và không tiếp tục sử dụng dịch vụ của Công ty. Chỉ những KH có mức độ hài lòng cao nhất "rất hài lòng" thì họ chắc chắn sẽ là những KH trung thành và luôn ủng hộ Công ty.
- Vì vậy, khi nghiên cứu về sự hài lòng của KH thì việc làm cho KH hài lòng là rất cần thiết mà việc giúp họ cảm thấy hoàn toàn hài lòng lại quan trọng hơn nhiều. Đối với những KH hài lòng thụ động, họ có thể rời bỏ Công ty bắt cứ lúc nào trong khi nhóm KH cảm nhận "rất hài lòng" thì sẽ là những KH trung thành của Công ty. Điều này sẽ giúp Công ty có những biện pháp cải tiến chất lượng dịch vụ linh hoạt cho từng nhóm KH khác nhau.2 Các mô hình chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của KH 1.1 Mô hình chất lượng của Gronroos (1984) - Theo mô hình này, chất lượng dịch vụ được đánh giá bằng cách so sánh giữa giá trị mà KH mong đợi trước khi sử dụng dịch vụ và giá trị mà KH nhận được khi sử dụng dịch vụ. - Vấn đề nghiên cứu: Chất lượng kỹ thuật và chất lượng chức năng ảnh hưởng thế nào tới dịch vụ cung cấp và KH cảm nhận về những yếu tố đó ra sao? Để đo lường chất lượng dịch vụ, Gronroos đưa ra ba tiêu chí: chất lượng kỹ thuật, chất lượng chức năng và hình ảnh.
Mô hình chất lượng kỹ thuật/chức năng Nguồn: Gronroos (1984) (1) Chất lượng kỹ thuật mô tả dịch vụ được cung cấp là gì và chất lượng mà KH nhận được từ dịch vụ. (2) Chất lượng chức năng mô tả dịch vụ được cung cấp thế nào hay làm thế nào KH nhận được kết quả chất lượng kỹ thuật.2 Mô hình SERVQUAL Parasuraman và cộng sự (1985) - SERVQUAL là công cụ đo lường chất lượng dịch vụ kinh điển được Parasuraman công bố năm 1985. SERVQUAL đo lường chất lượng dịch vụ dựa trên sự cảm nhận bởi chính các KH sử dụng dịch vụ. Cho đến nay, SERVQUAL được các học giả và nhà quản lý doanh nghiệp khẳng định là thang đo có độ tin cậy cao và có giá trị.
9 - Thang đo SERVQUAL đo lường chất lượng dịch vụ kì vọng và dịch vụ cảm nhận của KH được nghiên cứu thông qua 22 biến (câu hỏi) thuộc 5 khía cạnh: sự tin cậy, kỹ năng, sự hữu hình, sự đảm bảo và sự cảm thông.1 Sự tin cậy Sự tin cậy nói lên khả năng cung ứng dịch vụ chính xác, đúng giờ và uy tín. Điều này đòi hỏi sự nhất quán trong việc thực hiện dịch vụ và tôn trọng các cam kết cũng như giữ lời hứa với KH. Trong lĩnh vực dịch vụ môi trường, tiêu chí này thường được KH đo lường thông qua các yếu tố sau: - Khi Công ty cam kết làm điều gì đó trong thời gian cụ thể thì có thực hiện được đúng như vậy không; - Khi KH gặp trở ngại, Công ty có thực sự quan tâm giải quyết vấn đề đó; - Công ty có thực hiện dịch vụ đúng ngay lần đầu tiên; - Công ty có cung cấp dịch vụ của mình đúng thời gian đã cam kết; - Công ty có chú trọng vào việc không mắc lỗi trong cả quá trình làm việc.2 Sự đáp ứng Đây là tiêu chí đo lường khả năng giải quyết vấn đề nhanh chóng, xử lý hiệu quả các khiếu nại, sẵn sàng giúp đỡ KH và đáp ứng các yêu cầu của KH. Nói cách khác, sự đáp ứng là sự phản hồi từ phía nhà cung cấp dịch vụ đối với những gì mà KH mong muốn, cụ thể như: - Các nhân viên của Công ty có thông tin đến KH chính xác khi nào dịch vụ được thực hiện; - Nhân viên của Công ty có thực hiện dịch vụ một cách nhanh chóng; - Nhân viên của Công ty có luôn sẵn sàng giúp đỡ KH; - Nhân viên của Công ty có bao giờ quá bận rộn đến nỗi không đáp ứng yêu cầu của KH.3 Sự hữu hình Sự hữu hình chính là hình ảnh bên ngoài của cơ sở vật chất, thiết bị, máy móc, phong thái của đội ngũ nhân viên, tài liệu, sách hướng dẫn và hệ thống thông tin liên lạc của Công ty.
Nói một cách tổng quát, tất cả những gì mà KH nhìn thấy trực tiếp được bằng mắt và các giác quan thì đều có thể tác động đến yếu tố này: 10 - Công ty có được trang bị thiết bị hiện đại không; - Công ty có được bố trí bắt mắt; - Nhân viên Công ty ăn mặc có gọn gàng và trang nhã; - Tài liệu liên quan đến các sản phẩm, chẳng hạn như tờ rơi và các bài giới thiệu có hấp dẫn không.4 Sự đảm bảo Đây là yếu tố tạo nên sự tín nhiệm, tin tưởng cho KH được cảm nhận thông qua sự phục vụ chuyên nghiệp, kiến thức chuyên môn giỏi, phong thái lịch thiệp và khả năng giao tiếp tốt.