CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Giới thiệu vấn đề nghiên cứu Các hệ thống lạnh nén hơi thực làm việc với chu trình 1 cấp nén luôn luôn có độ quá lạnh ở thiết bị ngưng tụ và độ quá nhiệt ở thiết bị bay hơi, đồng thời quá trình nén thực của máy nén luôn có tổn thất năng lượng và luôn có độ giảm áp của môi chất lạnh khi qua thiết bị ngưng tụ và thiết bị bay hơi. Ví dụ đồ thị chu trình máy lạnh 1 cấp nén được trình bày như hình 1. Đồ thị lgp-h của máy lạnh 1 cấp nén Từ đồ thị hình 1.1 ta thấy môi chất sau quá trình tiết lưu có trạng thái là 5, đây là trạng thái hơi bão hòa ẩm (lỏng + hơi) và tỉ lệ lượng lỏng và hơi này tùy thuộc vào loại môi chất lạnh và các thông số vận hành mà có giá trị khác nhau có thể từ 15% đến 35% lượng môi chất đã bay hơi. Lượng môi chất sau quá trình tiết lưu đã bay hơi thì lượng hơi này đi qua thiết bị bay hơi cũng không có giá trị về mặt trao đổi nhiệt với môi trường cần làm lạnh.
Vậy nếu ta tách toàn bộ lượng môi chất đã bay hơi, không cho đi qua thiết bị bay hơi mà cho bypass về sau thiết bị bay hơi có thể về trước đầu hút máy nén thì có thể giảm được một năng lượng cần thiết để vận chuyển toàn bộ lượng hơi trên đi qua toàn bộ chiều dài đường ống của thiết bị bay hơi. Quá trình này được thể hiện như trên hình 1. 4 Luan van lgp 2' 4 3 6'' 5' 5 1 6' 1' h .2: Đồ thị chu trình máy lạnh 1 cấp nén sử dụng phương pháp flash gas bypass Lượng hơi sau khi được tách ra cho bypass về đầu hút máy nén kết hợp với hơi quá nhiệt sau thiết bị bay hơi để làm giảm độ quá nhiệt. Thực vậy khi áp suất đầu hút máy nén tăng, nhiệt độ đầu hút giảm làm cho nhiệt độ đầu đẩy cũng giảm theo và độ chênh áp của thiết bị ngưng tụ cũng giảm và công nén thực cũng sẽ giảm khi có cùng một năng suất lạnh.
Tất cả những điều này sẽ dẫn đến hệ số làm lạnh của máy lạnh sẽ được nâng cao.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước Chu trình lạnh được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực từ nông nghiệp, công nghiệp đến các ngành dịch vụ và trong đời sống hàng ngày của con người, nhiều nghiên cứu về cả lý thuyết và thực nghiệm đã và đang thực hiện nhằm phân tích những tác động ảnh hưởng đến hệ số hiệu quả năng lượng của chu trình với mục tiêu tăng COP tới mức tối ưu như: S. Devotta cùng các cộng sự [1] đã tìm kiếm các lựa chọn thay thế cho HCFC – 22 trong điều hòa không khí. NIST CYCLE_D đã được sử dụng cho việc so sánh các phân tích về nhiệt động lực học. Trong số các môi chất lạnh được nghiên cứu (HFC134a, HC290, R407C, R410A và ba hỗn hợp HFC32, HFC134a và HFC125), HFC134a cung cấp COP cao nhất, nhưng công suất của nó ở mức thấp nhất và yêu cầu máy nén lớn hơn nhiều so với các môi chất cùng được so sánh.
Pamela Reasor và các cộng sự [2] thực hiện một cuộc điều tra so sánh hiệu suất làm lạnh của R1234yf với R134a, R410A. Mô phỏng được tiến hành để xác 5 Luan van định tính khả thi của việc sử dụng R1234yf như là một thay thế cho R134a hoặc R410A. Jain Siddharth và các cộng sự [3] đã phân tích định lượng các lợi ích tiềm năng của phun hơi trong máy nén xoắn. Đối với ứng dụng trong cùng điều kiện điều hòa không khí, COP của hệ thống tăng từ 6% – 8%, thể tích hút giảm 16%.
Trong ứng dụng làm lạnh, COP hệ thống tăng 10% – 12%, thể tích nén giảm 28%. Gustavo Pöttker [4] đã nghiên cứu thực nghiệm và đưa ra ba cơ hội khác nhau trong việc tăng COP trong hệ thống nén hơi gồm: sử dụng các đầu phun phục hồi, quá lạnh dàn ngưng tụ và tăng kích thước tương đối của bộ trao đổi nhiệt. Christian Lucas và các cộng sự [5] cũng nghiên cứu thực nghiệm về việc cải thiện COP trong chu trình lạnh bằng việc sử dụng thiết bị phun. Nghiên cứu này chỉ ra rằng, so với COP tối đa của chu trình sử dụng van tiết lưu, COP của chu trình sử dụng thiết bị phun này tăng 17% với môi chất CO2.
Bahman và các cộng sự [6] cũng đề xuất sử dụng máy nén dạng phun hơi với bộ tiết kiệm để cải thiện hiệu suất hệ thống điều hòa không khí dạng cụm. Kết quả cho thấy nhiệt độ đầu đẩy của máy nén giảm đến 5°C, cải thiện công suất lạnh và COP tương ứng lên tới 12,7% và 3,1%. Nghiên cứu thực nghiệm về tác dụng của việc quá lạnh bình ngưng đối với hiệu suất của một hệ thống điều hòa không khí hoạt động với môi chất R134a và R1234yf., Hrnjak, P [7] đã chỉ ra rằng trong một điều kiện hoạt động nhất định, COP hệ thống tăng lên đến 18% cho R1234yf và 9% cho R134a. Bahman và Eckhard A.
Groll [8] đã ứng dụng mạch sắp xếp xen kẽ để cải thiện hiệu suất của thiết bị bay hơi và COP của hệ thống điều hòa không khí dạng cụm. Ứng dụng này giúp cải thiện công suất lạnh và COP tương ứng lên tới 16,6% và 12,4%. Nghiên cứu của Bowers, Chad D. và các cộng sự [9] cho thấy rằng sự phân bổ các dòng môi chất lỏng, đặc biệt là ở thiết bị bay hơi, bên cạnh đó, hiện tượng ở đầu vào của thiết bị là dòng chảy ngược và nhảy thủy lực đã được quan sát thấy có thể làm giảm hiệu suất truyền nhiệt của thiết bị, do đó làm giảm hiệu quả và năng suất của hệ thống.
Hoon Kang và các cộng sự [10] cũng nghiên cứu ảnh hưởng của sự tạo bọt khí ở ngay đầu vào của van tiết lưu điện tử bằng tỉ số “flash gas”. Khi tỉ số này tăng, công suất lạnh trung bình của hệ thống giảm nhiều so với việc giảm lượng điện năng tiêu thụ, dẫn đến COP trung bình của hệ thống và nhiệt độ đầu đẩy của máy nén tăng. Hiện tượng dòng chảy ngược được nghiên cứu chi tiết bởi Hanfei Tuo, Pega Hrnjak [11,12]. Các nghiên cứu này đã chỉ ra ba ảnh hưởng của dòng chảy ngược đến hiệu quả làm việc của thiết bị bay hơi, bao gồm: hạn chế sự phân phối lỏng; giảm hệ số truyền nhiệt; tăng tổn thất áp suất phía môi chất lạnh.
Đồng thời xác định được lưu lượng dòng chảy ngược và mô phỏng các biến động sôi của R-134a trong thiết bị bay hơi kênh micro 6 Luan van trong hệ thống điều hòa không khí. Từ các nghiên cứu trên, ta có thể thấy rằng, sau khi qua van tiết lưu nếu trực tiếp đưa dòng hơi bão hòa ẩm vào thiết bị bay hơi thì: phân phối lỏng không đều, sự chiếm chỗ của pha hơi – điều mà trước đó là một phần nguyên lý của chu trình lạnh – làm giảm diện tích trao đổi nhiệt. Một giải pháp được đề xuất đó là thông hơi và bỏ qua dòng hơi tích tụ ngay đầu vào của thiết bị bay hơi. Thuật ngữ Flash Gas Bypass (FGB) hay Flash tank xuất hiện như là một cách tiếp cận mới trong việc tách lỏng – hơi trong hệ thống điều hòa không khí, bơm nhiệt và một số hệ thống khác giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống.
Dòng hơi bão hòa ẩm được tách ra thành pha lỏng và pha hơi. Hơi được đưa trực tiếp về đầu hút của máy nén và chỉ có lỏng được đi vào thiết bị bay hơi. Điều này giải quyết vấn đề phân phối lỏng, diện tích trao đổi nhiệt và tổn thất áp suất trong thiết bị bay hơi. Stefan Elbel, Pega Hrnjak [13] đã chứng minh rằng cách tiếp cận này có khả năng cải thiện COP hệ thống điều hòa không khí khi so sánh thử nghiệm với một hệ thống tiết lưu trực tiếp (DX) thông thường môi chất R744.
So sánh này cho thấy rằng FGB tăng đồng thời công suất lạnh và COP tương ứng lên tới 9 và 7%. Hanfei Tuo, Pega Hrnjak [14,15,16] tiếp tục nghiên cứu ảnh hưởng của của FGB trong hệ thống điều hòa không khí di động sử dụng môi chất R134a (với dàn lạnh micro 1 pass). Các nghiên cứu này cho thấy khi hoạt động ở cùng tốc độ nén, hệ thống ở chế độ FGB có công suất lạnh tăng thêm 13% - 18% và COP cao hơn 4% - 7% so với chế độ DX. Khi tốc độ nén được điều chỉnh để duy trì cùng công suất lạnh, COP được cải thiện 37% - 55%.
Bên cạnh đó, các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc loại bỏ khí ở thiết bị bay hơi giúp cải thiện việc phân phối môi chất lạnh và giảm sụt áp trong thiết bị bay hơi kênh micro, do đó làm tăng hiệu quả hệ thống.Patil [17] cũng chỉ ra rằng khi hệ thống được vận hành ở cùng điều kiện tải, COP thực tế ở chế độ FGB tăng lên 1,27% đến 7,28%, COP lý thuyết khoảng 2,07% đến 5,93% và COP trong chu trình Carnot là 2,38% đến 7,42% so với chế độ DX. Ở chế độ FGB, tổn thất áp suất ở thiết bị bay hơi ít hơn khoảng 0,1 bar, do tổn thất áp suất ít đi nên công máy nén giảm 9% và nhiệt độ đầu đẩy giảm 2oC – 4oC. Gustavo Pottker và cộng sự [18] thực hiện sự so sánh giữa hệ thống FGB và một hệ thống thông thường (CV) bằng thực nghiệm để định lượng COP tăng do cấp lỏng hoàn toàn cho thiết bị bay hơi. Kết quả cho thấy COP cải thiện dao động từ 4,9% đến 9,0%.
Các cơ chế cải tiến là giảm tổn thất áp suất phía môi chất trong thiết bị bay hơi. Hwang, Yunho và các cộng sự [19] đã nghiên cứu thực nghiệm một chiến lược kiểm soát hệ thống phun hơi môi chất R410a với “ flash tank”. Thiết bị “flash tank” này được trang bị một mắt kính để theo dõi mức lỏng của môi chất và thấy được sự tách pha lỏng 7 Luan van – hơi của môi chất. Các thí nghiệm cho thấy rằng mức lỏng duy trì trong “ flash tank” nên ở mức từ 40% - 60% chiều cao bình để đảm bảo việc tách pha đáng tin cậy hơn.
Ye Liu và các cộng sự [20] đã nghiên cứu hiệu suất của chu trình làm lạnh phun hơi tăng cường (EERC) với bộ tiết kiệm flash tank cho việc sử dụng ở mức nhiệt thấp. Nghiên cứu so sánh hiệu suất của chu trình sử dụng “flash tank” và vòi phun phụ trợ với chu trình nén hơi thông thường (CERC).