Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan kết quả nghiên cứu liên quan 1.1 Khái quát nhu cầu sử dụng năng lượng trên thế giới và ở nước ta 1.1 Nhu cầu sử dụng năng lượng trên thế giới * Tình hình năng lượng thế giới Vào đầu thế kỷ thứ 21 thế giới đang đứng trước nhiều vấn đề cần phải đối mặt. Trong đó, vấn đề được xem là nóng bỏng nhất chính là sự khủng hoảng về năng lượng. Theo dự báo của Cơ quan thông tin về năng lượng (EIA) vào năm 2004, trong vòng 24 năm kể từ năm 2001 đến năm 2025, mức tiêu thụ năng lượng trên toàn thế giới có thể tăng thêm 54% (ước tính khoảng 404 nghìn triệu triệu Btu năm 2001 tới 623 nghìn triệu triệu Btu vào năm 2025) mà nhu cầu chủ yếu sẽ rơi vào các quốc gia có nền kinh tế đang phát triển mạnh mẽ, ví dụ như Trung Quốc hay Ấn Độ ở châu Á.1 Mức tiêu thụ năng lượng của thế giới Hình 1.2 Tiêu thụ năng lượng phân theo từ 1970-2025 (đơn vị nghìn triệu Btu) [24] khu vực (đơn vị nghìn triệu Btu) [24] Dân số tăng nhanh và tốc độ đô thị hóa chóng mặt trên toàn cầu cũng là một yếu tố ảnh hưởng mạnh đến nhu cầu về năng lượng. Dân số thế giới đã tăng từ khoảng 5,5 tỷ người trong năm 1993 lên tới gần 7,3 tỷ người vào năm 2015.
Lê Minh Nhựt 1 HVTH: Nguyễn Du Luan van Luận văn thạc sĩ *Vài nét chung về nhu cầu năng lượng của thế giới Về vấn đề này, có 3 điểm chúng ta cần lưu ý. Một là, nhu cầu về năng lượng của thế giới tiếp tục tăng lên đều đặn trong hơn hai thập kỷ qua. Thứ hai là, nguồn năng lượng hóa thạch vẫn chiếm 90% tổng nhu cầu về năng lượng cho đến năm 2015. Thứ ba là, nhu cầu đòi hỏi về năng lượng của từng khu vực trên thế giới cũng không giống nhau.3 mức tiêu thụ của các nguồn năng Hình 1.4 Lượng khí thảy CO2 sinh ra do sử lượng của thế giới 1970-2025 (đơn vị nghìn dụng năng lượng hóa thạch [24] triệu triệu Btu) [24] Tài liệu của Cơ quan Thông tin Năng lượng 2004 đã dự báo rằng nhu cầu tiêu thụ tất cả các nguồn năng lượng đang có xu hướng tăng nhanh.
Các nguồn năng lượng hóa thạch trên thế giới đang dần cạn kiệt, thêm nữa là những vấn đề môi trường nảy sinh trong quá trình khai thác đã dẫn đến việc khuyến khích sử dụng năng lượng để giảm bớt sự ô nhiễm môi trường và tránh gây cạn kiệt nguồn năng lượng hóa thạch. Nhưng do chưa có những điều luật cụ thể về vấn đề này, nên dầu mỏ, than đá, khí thiên nhiên vẫn được coi là nguồn nhiên liệu chủ yếu để nhằm thỏa mãn những đòi hỏi về năng lượng và chính điều đó sẽ dẫn đến sự cạn kiệt nguồn năng lượng hóa thạch trong một thời gian không xa. Hình dưới đây sẽ minh họa tình hình tiêu thụ năng lượng cơ bản của thế giới phân theo nguồn năng lượng từ năm 1970 - 2025. Lê Minh Nhựt 2 HVTH: Nguyễn Du Luan van Luận văn thạc sĩ Nhu cầu sử dụng năng lượng của các quốc gia ngày càng tăng mạnh kèm theo vấn đề ô nhiễm môi trường gây nên tình trạng biến đổi khí hậu.
Đây là vấn đề mà cả thế giới đang rất quan tâm. Do đó việc tìm kiếm nguồn năng lượng thay thế cho nguồn năng lượng hóa thạch làm vấn đề hết sức cấp bách.5 Tiêu thụ năng lượng thế giới theo Hình 1.6 Biểu đồ tiêu thụ năng lượng thế giới nguồn năng lượng 1970-2025 (đơn vị nghìn của các nguồn năng lượng (%) [24] triệu triệu Btu) [24] 1.2 Nhu cầu sử dụng năng lượng tại Việt Nam Theo một báo cáo của Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công thương). Hiện nay, nguồn năng lượng của Việt Nam hiện đang cạn kiệt dần. Than chỉ còn 3,88 tỷ tấn; dầu còn 2,3 tỷ tấn… Ước tính, nguồn năng lượng tự nhiên hiện nay của chúng ta sẽ cạn kiệt trong thời gian tới, trong đó dự báo nguồn dầu mỏ thương mại trên thế giới còn dùng khoảng 60 năm, khí tự nhiên 80 năm, than 150 - 200 năm.
Tại Việt Nam, các nguồn năng lượng tự nhiên này có thể còn hết trước thế giới một vài chục năm. Trong bối cảnh đó, các chuyên gia kinh tế năng lượng đã dự báo đến trước năm 2020, Việt Nam sẽ phải nhập khoảng 12% - 20% năng lượng, đến năm 2050 lên đến 50% - 60%, chưa kể điện hạt nhân. Tình hình năng lượng hiện nay của chúng ta, trong lĩnh vực điện năng chủ yếu dựa vào nhiệt điện và thủy điện. Thủy điện tuy có tiềm năng phát triển nhưng lại phụ thuộc vào thời tiết, nếu phát triển quá lớn chưa thể lường trước những biến đổi về dòng chảy tác động tiêu cực đến môi GVHD: TS.
Lê Minh Nhựt 3 HVTH: Nguyễn Du Luan van Luận văn thạc sĩ trường sinh thái. Điện hạt nhân còn đang trong quá trình chuẩn bị phương án. Về xăng dầu, hiện nay chúng ta vẫn phải nhập khẩu, dự tính khi nhà máy lọc dầu Dung Quất đưa vào sử dụng năm 2009 - 2010, mới chỉ cung cấp được khoảng trên 5 triệu tấn xăng dầu cho giao thông vận tải trong tổng số nhu cầu 15 - 17 triệu tấn, vẫn phải nhập trên 10 triệu tấn. Đến năm 2020, khi đưa tiếp 2 nhà máy lọc dầu vào hoạt động chúng ta có chừng 15 - 16 triệu tấn xăng dầu trong tổng nhu cầu 30 - 35 triệu tấn, vẫn phải nhập ít nhất 15 triệu tấn.
Rõ ràng, hiện nay chúng ta chưa tự chủ được nhiều trong vấn đề năng lượng. Trong khi đó, những tác động của thiếu điện hay tăng giá xăng đều ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế. Mặc dù chúng ta là nước đang phát triển nhưng cũng không nằm ngoài xu hướng chung của thế giới. Ước tính nhu cầu năng lượng trung bình đến năm 2020 là 53,6 triệu TOE, riêng nhu cầu điện là 168 tỷ kWh.2 Nhu cầu sử dụng nước nóng tại Việt Nam Nhu cầu sử dụng nước nóng ở nước ta là rất lớn không chỉ trong ngành dịch vụ, du lịch mà cả các ngành công nghiệp.
Nhu cầu sử dụng nước nóng trong sinh hoạt, sản xuất rất lớn, tuy nhiên nguồn năng lượng cung cấp các quá trình gia nhiệt thường là điện năng (bình nước nóng trong sinh hoạt), năng lượng hóa thạch cấp nhiệt quá trình sản xuất nước nóng phục vụ trong các ngành công nghiệp. Những năm gần đây, một số hộ gia đình cũng như các khách sạn đã thay thế hệ thống nước nóng cũ để sử dụng máy nước nóng năng lượng mặt trời cũng như có nhiều dự án lớn lắp đặt hệ thống sản xuất nước nóng năng lượng mặt trời.3 Khái quát tình hình nghiên cứu, ứng dụng ở Việt Nam và trên thế giới Ở ngoài nước - Kroll và Ziegler [1] trình bày các thí nghiệm và mô phỏng cho hệ thống với thể tích bình tích trữ nhỏ để đáp ứng nhu cầu sưởi ấm hộ gia đình, về tính hữu ích và tính khả thi kinh tế so với hệ thống có thể tích bình tích trữ lớn (với thể tích lên đến 3000 – 60. Các mô phỏng bao gồm hai năm vận hành liên tục và đưa ra các kết luận rằng hệ thống với bình tích trữ nhỏ có thể đạt giá trị năng lượng hữu ích cho GVHD: TS. Lê Minh Nhựt 4 HVTH: Nguyễn Du Luan van Luận văn thạc sĩ mỗi mét vuông bộ thu và năng lượng hữu ích cho mỗi mét khối bồn tích trữ tương đương với dự án quy mô lớn.
- Orbach và các cộng sự [2] trình bày việc điều khiển vận tốc chất lỏng tối đa hóa năng lượng bộ thu trong một khoảng thời gian cố định. Điều kiện cần thiết để tối ưu là đưa ra tập hợp các phương trình có lời giải điều khiển tối ưu. Kết quả điều khiển tối ưu là một vòng lặp mở, vòng lặp đóng-mở phụ thuộc vào hai điều kiện: trạng thái đo lường chất lỏng của bộ thu, dự báo dữ liệu thời tiết. - Furbo và Shah [3] đề xuất hai phương pháp được sử dụng để xác định điều khiển dòng chảy tối ưu cho vòng tuần hoàn bộ thu hệ thống nước nóng năng lượng mặt trời.
Thứ nhất, lưu lượng khối lượng xác định như là một hàm tổng quát của bức xạ năng lượng mặt trời ngẩu nhiên đến bộ thu. Furbo et al. Kết luận rằng hiệu suất nhiệt tăng 0,8%. Trong thực tế, phương pháp này không thể sử dụng vào những ngày có mây, khi sự xuất hiện đột ngột của những đám mây thì hoạt động bộ thu trong vòng lặp là không ổn định.
Thứ hai, lưu lượng khối lượng xác định như là một hàm của sự khác biệt giữa nhiệt độ đầu ra bộ thu năng lượng mặt trời và nhiệt độ nước trong bình tích trữ. Họ cũng kết luận rằng hiệu suất nhiệt tăng 0,9%. Đối với phương pháp này, vòng lặp bộ thu năng lượng mặt trời sẽ làm việc ổn định hơn nếu lưu lượng khối lượng không phụ thuộc trực tiếp vào điều kiện thời tiết, mặc dù nó cần phải được phát triển để có hiệu suất nhiệt tốt. - Sweet và McLeskey Jr [4] mô tả ứng dụng của SSTES (seasonal solar thermal energy storage) cho nhà ở riêng lẻ.
Đặc biệt, TRNSYS được sử dụng để mô phỏng, đánh giá và tối ưu hóa hệ thống lưu trữ năng lượng nhiệt của mặt trời trong mùa nóng sử dụng trong mùa lạnh. - Kulkarni, và các cộng sự [5] trình bày tác dụng bổ sung nước vào bình tích trữ hệ thống được nghiên cứu và đề xuất biện pháp cải thiện thiết kế và hiệu suất hệ thống sưởi ấm nước bằng năng lượng mặt trời. Vấn đề đã được phân tích bằng cách sử dụng phương pháp gọi là phương pháp thiết kế tiếp cận không gian. Lê Minh Nhựt 5 HVTH: Nguyễn Du Luan van Luận văn thạc sĩ - Medeiros và cộng sự [6] nghiên cứu nhằm mục đích phát triển phần mềm mô phỏng, thiết kế tối ưu hóa hệ thống sưởi ấm nước hỗn hợp (năng lượng mặt trời và điện), bằng cách sử dụng phần mềm MATLAB.
- Zelzouli và các cộng sự [7] trình bày mô hình hệ thống sưởi năng lượng mặt trời nhiều bộ thu dự đoán hệ thống. Hai hệ thống được đề xuất: (1) đầu tiên, nước nóng năng lượng mặt trời trực tiếp, trong đó bao gồm bộ thu tấm phẳng và bình tích trữ, (2) thứ hai, nước nóng năng lượng mặt trời gián tiếp, trong đó thêm bộ trao đổi nhiệt bên ngoài, hệ thống này làm việc hiệu quả hơn so với hệ thống đầu tiên. Lưu lượng khối lượng bộ thu cố định là 0,04 kg s và tổng số bộ thu được điều chỉnh đến 60. Tuy nhiên tác giả đã chứng minh rằng số lượng bộ thu được kết nối bị hạn chế.