CHƯƠNG I THUC TRANG CONG TAC QUAN LY HA TANG KY THUAT THI TRAN THANH LANG, HUYỆN BÌNH XUYÊN 1. Thực trạng công tác quản lý Hạ tầng kỹ thuật các thị trấn của Huyện Bình Xuyên l 1. Giới thiệu chung về huyện Bình Xuyên a. Vị trí địa lý Bình Xuyên là một huyện có cả ba địa hình là: đồng bằng, trung du và miền núi, có vị trí nằm gần trung tâm tỉnh ly của tỉnh Vĩnh Phúc, cách thành phố Vĩnh Yên 7 km dọc theo quốc lộ 2, cách Thủ đô Hà Nội khoảng 50km theo hướng Tây - Tây Bắc.
Bình Xuyên có diện tích tự nhiên là 14. - Phía Bắc giáp huyện Tam Đảo và tỉnh Thái Nguyên. - Phía Đông giáp thị xã Phúc Yên và huyện Mê Linh (thuộc Thủ đô Hà Nội) ~ Phía Nam giáp huyện Yên Lạc. - Phía Tây giáp huyện Tam Dương, Yên Lạc và TP Vĩnh Yên.
Vi tri dia lý có nhiều thuận tiện cho sự giao lưu hàng hóa và phát triển dịch vụ. Bình Xuyên là huyện trọng điểm phát triển khu công nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc, cách không xa các khu công nghiệp tập trung như: Bắc Thăng Long - Nội Bài; khu công nghiệp Sài Đồng, cảng hàng không Nội Bài (Hà Nội); nằm giữa hai trung tâm kinh tế - chính trị lớn của tỉnh là Vĩnh Yên và Phúc Yên; có đường sắt Hà Nội - Lào Cai, Quốc lộ 2 và đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai chạy qua là những điều kiện rất thuận lợi để huyện phát triển một nền kinh tế đa dạng (công, nghiệp - dịch vụ và nông lâm nghiệp) và hình thành các khu công nghiệp, các trung tâm dịch vụ; đồng thời có cơ hội tiếp cận nhanh những tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa của huyện. Với ba thị trấn trên địa bàn huyện, gồm: Hương Canh - huyện ly và hai thi tran Thanh Lãng và Gia Khánh, lại nằm ở vị trí giữa hai đô thị lớn của tỉnh Vĩnh Phúc, Bình Xuyên cũng gặp không ít khó khăn hạn chế. Việc giao lưu đường bộ giữa vùng lân cận với khu vực phía Bắc huyện gặp khó khăn do bị dãy núi Tam Đảo chia cắt, làm hạn chế đến phát triển công nghiệp và dịch vụ, Khu vực đồng bằng của huyện có địa hình thấp, độ chênh lệch giữa các cốt ruộng lớn lại chịu ảnh hưởng của nguồn nước từ dãy núi Tam Đảo chảy qua nên khi mưa lớn xảy ra thường gây úng lụt cục bộ tại khu vực trũng.
BAN DGag aren HANHThee eeCHINE ‘ev PS Hinh 1.1: Ban do hanh chinh huyén Bình Xuyên (Nguén: Phong Tai nguyên - Môi trường năm 2015) b- Điều kiện tự nhiên * Địa hình, địa mạo Bình Xuyên có ba vùng địa hình khá rõ rệt: Đồng bằng, trung du, miền núi; nhìn chung địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam: Vùng núi: Nằm ở phía Bắc của huyện có dãy núi Tam Đảo chạy ngang từ Tây sang Đông phân cha ranh giới huyện với tỉnh Thái Nguyên. Địa hình bị chia cắt mạnh. Đất đai có độ đốc cấp 3 (từ 15-250), cấp 4( trên 250) chiếm trên 90% diện tích, có nguồn gốc hình thành khá phức tạp, tạo nên tính da dang phong phú của hệ sinh thái vùng đổi núi. Vùng trung du: Tiếp giáp với vùng núi, chạy dài từ Tây Bắc xuống Đông Nam, gồm các xã, thị trấn: Gia Khánh, Hương Sơn, Thiện Kế, Bá Hiền, Sơn Lôi, Tam Hợp, Quất Lưu.
Đây phần lớn là vùng đồi gò có độ dốc cấp 2 (§-15°), nằm xen kẽ giữa các dải ruộng bậc thang có độ đốc cấp 1 (dưới 8°); tuy nhiên, còn xuất hiện dải núi cao có độ dốc trên 150 chạy dài từ Hương Sơn đến Quất Lưu với các đỉnh cao như: Núi Định (204,5m), núi Nia (82,2m), núi Trống (156,5m). Do quá trình khai thác không khoa học trong những năm qua đã tạo ra diện tích khá lớn đất trống đồi núi trọc hoặc cây cối thưa thớt, phần lớn là cây bạch đàn không có khả năng cải tạo đất. Vùng này đất đai được hình thành từ nhiều loại đá vụn khác nhau, với độ dốc vừa phải, do đó ngoài mục đích lâm nghiệp đây còn là vùng có tiềm năng cho việc trồng cây ăn quả, trang trại vườn rừng, cây công nghiệp ngắn ngày 'Vùng đồng bằng: Gồm các xã, thị trần: Đạo Đức, Phú Xuân, Tân Phong, Thanh Lãng, đất đai tương đối bằng phẳng, có độ đốc < 50°: tuy nhiên độ chênh lệch giữa các cốt ruộng rất lớn ( điểm cao nhát: khu Kiền Sơn - Đạo Đức là 11,6m, điểm thấp nhất: khu Bới Dứa - Thanh Lãng là 6,3m). Xen kẽ giữa gò đất thấp là những chân ruộng trũng lòng chảo, đây là những khu vực thường, ngập úng vào mùa mưa.
* Điều kiện khí hậu Bình Xuyên nằm trong tiểu vùng khí thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng, bị chỉ phối bởi dãy núi Tam Đảo, là vùng khí hậu chuyền tiếp giữa miền núi và đồng bằng, thường chịu tác động không tốt từ các cơn bão, gây mưa tô, lốc lớn. Mùa hạ: nóng ẩm và mưa nhiều, thường kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9 được phân chia làm hai thời kỳ: Thời kỳ thứ nhất: diễn ra từ tháng 5 đến tháng 7 trời nóng bức, nhiệt ngoài trời lên cao, nắng mưa thất thường kèm theo giông bão, đôi khi có những, trận gió Lào làm cây cối, lúa màu khô héo, thời kỳ này mưa tập trung có thé gây ngập úng. Thời kỳ thứ hai: Từ tháng 7 đến tháng 9 nhiệt độ có giảm đôi chút nhưng. thường có mưa kéo dài gây úng cục bộ.
Mùa đông: (lạnh và khô hanh) kéo dải từ tháng 10 năm trước đến tháng 4 năm sau được chia làm 2 thoi ky: Thời kỳ thứ nhất: được tính từ tháng 10 năm trước đến tháng 1 năm sau, thời kỳ này không khí khô khan, độ ẩm thấp, biên độ giữa ngày và đêm chênh lệch nhau nhiều, hau như không có mưa, sương mù vào buôi sáng (đôi khi có sương muối), trời giá lạnh có những đợt rét kéo dài từ 7 đến 10 ngày. Thời kỳ thứ hai: kéo dài từ tháng 2 đến tháng 4, giai đoạn này thời tiết ấm dần, đôi khi có mưa nhỏ (mưa phùn) có những đợt rét ngắn vào cuối vụ, thời tiết đỡ khắc nghiệt hơn. Hiện trạng hạ tầng kỹ thuật các thị trần của huyện Bình Xuyên a. Giao thông, * Giao thông đối ngoại trong các thị trấn của huyện Bình Xuyên: Có đường QL2 đi qua thị tran Huong Canh, đường tỉnh ĐT.302 đi qua thi tran Hương Canh , đường tinh DT.303 đi qua thị trấn Hương Canh và thi tran Thanh Lãng, đường tỉnh ĐT.305B đi qua thị tran Hương Canh.
Đường tinh 310 di qua địa phận huyện Bình Xuyên * Giao thông đối nội trong các thị trần của huyện Bình Xuyên: Có đường.31 tir thi trắn Thanh Lãng đi xã Đạo Đức, dường ĐH.32 từ Hương Canh đi thj tran Thanh Lãng, đường DH.32B tir Hương Canh đi xã Sơn Lôi, đường ĐH.32C từ thị trắn Hương Canh đi Trung tâm văn hóa thê thao huyện, đường ĐH33B từ thị trấn Gia Khánh đi xã Thiện Kế, đường DH.34 tir thi tran Gia Khánh đi xã Hợp Châu, đường ĐH34C trên dia ban thị tran Gia Khanh. Đường kết nói giữa các tổ dân phố của thị trắn Thanh Lãng Mạng lưới đường đường giao thông các thị trấn của huyện Bình Xuyên một số tuyến có mặt cắt còn nhỏ, đầu tư xây dựng chưa được đồng bộ, dẫn đến một số tuyến đường đã bị xuống cấp đã làm cho người và các phương tiện khó khăn trong khi tham gia giao thông. Đường kết nối giữa các tổ dân phố của thị trắn Thanh Lang 1I c. Cấp nước Các thị trấn trên địa bàn huyện Bình Xuyên trên cơ bản đáp ứng nhu cầu dùng nước của người dân, mạng lưới cấp nước được đầu tư xây dựng đến những trục đường chính đến từng hộ dân.
Mạng lưới cấp nước chủ yếu là dùng, mạng vòng kết hợp mạng cụt, vật liệu sử dụng chủ yếu là ống nhựa HDPE hoặc ống gang tráng kẽm được đặt ngầm dưới vỉa hè và lề đường, hệ thống cấp nước chữa cháy được bố trí tại các vị trí phù hợp cho công tác phục vụ chữa cháy khi có hỏa hoạn xảy ra. Ngoài những tuyến chính còn những tuyến nhánh hiện nay chưa được đầu tư xây dựng mạng lưới cấp nước, người dân các khu vực này vẫn phải sử dụng nguồn nước ngầm bằng giếng khoan và giếng khơi Nguồn nước cấp cho các thị trấn trên địa bàn huyện phần lớn là nguồn nước từ hệ thống cấp nước sạch của Công ty cấp thoát nước sé 1 của Thành Phố Vĩnh Yên cấp cho địa bàn thị trấn Gia Khánh và Công ty Cấp thoát nước số 2 của Thị xã Phúc Yên cấp cho dia ban thi tran Hương Canh và thị trấn Thanh Lang. Thoat nước Hệ thống thoát nước bao gồm hệ thống thoát nước mưa và thoát nước thải, thường được thiết kế riêng biệt trong các tuyến đường tỉnh đi qua các thị trấn trên địa bàn huyện Bình Xuyên. Chỉ một số ít dự án trên địa bàn có khu xử lý nước thải riêng, còn đa phần hai hệ thống nước thải này sau khi chảy riêng, biệt từ các thị trần được đầu nối vào nhau một cách gián tiếp (cùng chảy ra ao, hồ, sông.
Hệ thống thoát nước thải của thị trấn Thanh Lang Hiện nay, hệ thống thoát nước các thị trần trên địa bàn huyện được thiết kế xây dựng phục vụ chỉ cho riêng cho thị trấn. Việc đấu nói giữa hệ thống thoát nước nội bộ trong thị trần với các xã liền kể ít được quan tâm. Đây có thể coi là đặc thù của hệ thống thoát nước so với các hạ tầng kỹ thuật khác, thoát nước phải được nghiên cứu cho 1 vùng hay một lưu vực thoát nước nào đó, có khi bao gồm cả thị trấn hay chỉ một phần và diện tích khu vực liền kề. Trên thực tế, cốt cao độ tự nhiên của các thị trần thấp hơn hẳn so với một số HTKT khu dân cư được quy hoạch mới của thị trấn các xã liền kể, chưa có sự khớp.
nối tốt với hệ thống HTKT khu vực. Thực tế quy hoạch thoát nước trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 đã được UBND tỉnh phê duyệt năm 2014 với mục 13 tiêu cụ thể là đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về hoạt động thoát nước trên địa bàn tỉnh và làm cơ sở cho việc triển khai các dự án đầu tư xây dựng mới, cải tạo và nâng cấp hệ thống thoát nước trên địa bàn tỉnh, nhưng hiện nay quy hoạch đó vẫn là trên giấy, chưa thực hiện, nên khi đấu nối với hệ thoát nước của các thị trấn với khu vực lân cận thì chưa có chỗ đấu nói.