Mở đầu 1. Mục đích của đề tài và lý do hình thành đề tài 2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 4.
Phạm vi và giới hạn của đề tài 5. Phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể 6. Kết cấu của luận văn tốt nghiệp Chƣơng 1: Tổng quan về hệ động lực tuabin hơi nƣớc 1. Quá trình phát triển và những cải tiến kỹ thuật của hệ động lực tuabin hơi.
Ứng dụng của tuabin hơi 1. Tống quan về tình hình nghiên cứu đề tài trên thế giới và trong nƣớc. Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết của đề tài 2. Cơ sở lý thuyết về hệ động lực tuabin hơi nƣớc 2.
Các biện pháp nâng cao hiệu suất nhiệt của chu trình 2. Tính hiệu suất của tuabin hơi nƣớc và của cả hệ động lực tuabin hơi nƣớc 2. Tính công suất của tuabin hơi nƣớc và của cả hệ động lực tuabin hơi nƣớc Chƣơng 3: Các giải pháp tăng hiệu suất và công suất của hệ động lực tuabin hơi phụ tàu “Ba Vì” 3. Giới thiệu hệ động lực tuabin hơi phụ tàu “Ba Vì” 3.
Các giải pháp tăng hiệu suất và công suất của hệ động lực Tuabin hơi phụ tàu “Ba Vì” 3. Các giải pháp về nâng cao quá trình làm việc của hệ động lực Tuabin hơi phụ tàu “Ba Vì” 3. Nâng cao quá trình làm việc của nồi hơi phụ tàu “Ba Vì” 3. Nâng cao quá trình làm việc của động cơ tuabin hơi nƣớc 3.
Các giải pháp về nâng cao chất lƣợng khai thác hệ động lực tuabin hơi phụ tàu “Ba Vì” 3. Một số cải tiến về kết cấu nhằm tăng hiệu suất và công suất của hệ động lực tuabin hơi phụ tàu “Ba Vì” Chƣơng 4. Kết luận và hƣớng phát triển của luận văn 4. Hƣớng phát triển của luận văn 5 CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ HỆ ĐỘNG LỰC TUABIN HƠI NƢỚC 1.
Quá trình phát triển và những cải tiến kỹ thuật của hệ động lực tuabin hơi. Tuabin hơi nƣớc đầu tiên xuất hiện đầu thế kỉ XIX. Những ngƣời đầu tiên chế tạo ra tuabin hơi nƣớc là Gútav Laval (ngƣời Thuỵ Sỹ), Charles Parsons (Anh). Năm 1883 Laval đã chế tạo ra tuabin hơi nƣớc một tầng, năm 1884 kỹ sƣ ngƣời Anh Charles Parsons đã chế tạo ra tuabin nhiều tầng, mỗi tầng gồm một dãy ống phun và một dãy cánh động.
Năm 1912 tuabin hƣớng trục đầu tiên do hai anh em ngƣời Thụy Điển Iustre chế tạo. Vào thế kỷ XIX ngành chế tạo tuabin trên thế giới phát triển mạnh: Những năm 1924 đến 1928 ngƣời ta chế tạo ra những tuabin ngƣng hơi với công suất 200MW. Vào thập niên 70-80 cho ra đời loại tuabin sử dụng trong nhà máy điện nguyên tử với công suất 70MW, 225MW, 500MW, 1030 MW. Tuabin hơi hiện nay cũng đang đƣợc sử dụng rộng rãi trên các tàu thuỷ, nhất là các tàu chở dầu và các tàu có công suất lớn.
Tuabin hơi tàu thuỷ đƣợc dùng để lai chân vịt( tàu quân sự năng lƣợng hạt nhân) hoặc lai các máy phụ trên tàu thuỷ. Tuabin hơi tàu thuỷ có lịch sử phát triển từ rất lâu. Năm 150 trƣớc công nguyên Alesander Ghiron đã phát minh ra nguyên tắc phản lực từ mô hình quả cầu nƣớc. Năm 1629 Dodeovanhi Bran ngƣời Ý đã phát minh ra nguyên lý tuabin xung kích.
Những năm đầu thế kỳ 19 ở Nga cũng đã chế tạo đƣợc những mẫu tuabin hơi đầu tiên. Năm 1883 Gustavơ Lavan ngƣời Thụy Điển đã chế tạo ra tuabin hơi xung kích đầu tiên. Tuabin của Gustavơ Lavan gồm 1 dãy ống phun và 1 bánh cánh, có công suất 10 mã lực, tốc độ 25.000v/p Năm 1884 ở Anh đã chế tạo ra tuabin hơi phản kích có nhiều tầng sinh công, công suất 10 mã lực, tốc độ 17000 v/ph. 6 Năm 1886 kỹ sƣ Mỹ Kertix đã chế tạo ra tuabin xung kích có hai và 3 cấp tốc độ.
Năm 1900 Patơ ngƣời Pháp đã chế tạo ra tuabin xung kích nhiều tầng. Năm 1910-1912 hai anh em Unxtơnơ ngƣời Thuỵ Điển đã chế tạo ra kiểu tuabin hƣớng tâm, không có cánh hƣớng, có 2 dăy cánh động lắp trên 2 trục có chiều quay khác nhau, dòng hơi đƣợc dẫn vào vuông góc với trục (hƣớng tâm). Tàu tuabin hơi (tàu Turbinia) đầu tiên đƣợc đóng ở Anh năm 1895. Hiện nay tuabin hơi tàu thuỷ đƣợc sử dụng rộng rãi ở hệ động lực hơi nƣớc có công suất rất lớn, trên 20.000 kW, thƣờng đƣợc lắp trên các tàu lớn nhƣ tàu dầu, tàu sân bay, tàu hàng rời, hoặc các tàu nhỏ nhƣng cần tốc độ cao nhƣ tàu tốc hành, tàu container, tàu Ro-Ro.
Sơ lƣợc về tuabin hơi nƣớc 1.Khái niệm: Tuabin hơi nƣớc hay còn gọi là động cơ hơi nƣớc, trong đó thế năng của hơi ban đầu sẽ chuyển hóa thành động năng, sau đó chuyển thành cơ năng làm quay bánh công tác.Cấu tạo: hình 1.Sơ đồ cấu tạo một tuabin hơi nước 7 Đây là một mô hình tuabin trục ngang, lắp cố định. Có thân cao áp, trung áp, hạ áp riêng lẻ tƣơng ứng với roto cao áp, trung áp và hạ áp.1 là một tuabin hơi điển hình - Tuabin ngƣng hơi một thân có công suất 50MW với các thông số hơi ban đầu: Áp suất hơi mới đi vào tuabin cao áp 88 kG/cm2, nhiệt độ hơi mới trƣớc tuabin cao áp 5350C. Hơi theo dãy ống phun bất động lắp trong hộp ống phun hay là bánh tĩnh đi vào tuabin. Ở mỗi dãy ống phun dòng hơi đƣợc gia tốc trong các rãnh ống phun định hình.
Dòng hơi hƣớng vào các rãnh nằm giữa các cánh động, lực do dòng hơi tác dụng lên cánh động (gắn trên các đĩa) làm quay các đĩa và mang trục tuabin quay theo. Một bộ phận quan trọng là hệ thống van stop và van điều chỉnh nhằm cắt giảm lƣu lƣợng hơi đi vào tuabin khi tốc độ quay vƣợt quá tốc độ cho phép từ 10-12%. Cụm Roto đƣợc đặt trên hệ thống các gối đỡ trục gồm: Gối đỡ: Có nhiệm vụ đỡ trục roto, ở vị trí phía sau. Gối đỡ- chặn: Có nhiệm vụ vừa đỡ trục roto vừa chặn chuyển động dọc trục do tác dụng của dòng hơi, ở vị trí phía trƣớc.
Hệ thống bơm dầu chính: Để cung cấp dầu vào hệ thống bôi trơn các gối đỡ và vào hệ thống điều chỉnh để tự động duy trì tốc độ đã cho của roto.Nguyên lý hoạt động của tuabin hơi nƣớc hình 1. Sơ đồ nguyên lý đơn giản của hệ động lực tuabin hơi 1- Bơm nƣớc ngƣng 2- Nồi hơi 3- Tuabin hơi, 4- Bình ngƣng Hệ động lực tuabin hơi gồm có: 1. Bơm nƣớc ngƣng 1: Để bơm nƣớc ngƣng vào nồi hơi 2. Nồi hơi 2: Trong đó nƣớc cấp dƣới áp suất tƣơng ứng sẽ chuyển hóa thành hơi bão hòa.
Tuabin 3: Trong đó thế năng của hơi nƣớc chuyển hóa thành động năng, còn động năng chuyển hóa thành cơ năng trên trục. Bình ngƣng 4: Dùng để làm ngƣng tụ hơi thoát khỏi tuabin. Quá trình ngƣng hơi đẳng áp thực hiện trong bình ngƣng 4, hơi sau khi thoát khỏi đuôi tuabin là hơi bão hoà ẩm, nó đƣợc đẩy vào bình ngƣng để nhận nhiệt hoá hơi và chuyển thành nƣớc. Tuabin hơi Hơi nƣớc nóng đi vào rồi ra khỏi tuabin, nhiệt độ lạnh tại bình ngƣng làm cho hơi ngƣng tụ thành nƣớc và đi ra ngoài.
Giữa công đoạn hút và xả thì hơi nƣớc lúc này mang năng lƣợng lớn nhất. Để chuyển hóa hơi nƣớc thành năng lƣợng cơ học, bên trong tuabin có chứa hàng loạt các cánh nhỏ bao gồm cánh cố định ở giữa tuabin và cánh di động gắn vào rotor. Khi hơi nƣớc đi qua cánh cố định, tiết diện hẹp lại làm cho vận tốc hơi nƣớc tăng lên. Cũng giống nhƣ dòng sông, khi đến những đoạn sông hẹp thì nƣớc chảy rất xiết.
Do đó khi luồng hơi nƣớc đi qua dãy cánh cố định thì vận tốc sẽ tăng lên rất cao, lúc này nhiệt năng của hơi nƣớc bắt đầu chuyển thành động năng. Sau khi qua các cánh cố định thì hơi nƣớc sẽ di chuyển thẳng đến các cánh động. Những cánh động cong theo một hƣớng để làm thay đổi luồng hơi nƣớc và di chuyển liên tục. Các cánh này đƣợc gắn vào rotor và khi quay làm rotor quay theo.
Đến lúc này thì động năng đã chuyển hóa thành cơ năng. Cơ năng đƣợc hình thành bởi rotor của tuabin và làm quay trục (máy phát điện). Khi hơi nƣớc đi qua những chiếc cánh ở hàng cuối cùng thì sẽ đƣợc làm lạnh và ngƣng tụ lại thành nƣớc. Sau đó nƣớc vừa 10 ngƣng tụ này sẽ tiếp tục đƣợc đốt nóng để tạo ra một quá trình mới.Giới thiệu một số chủng loại Tuabin- Máy phát lắp trên tàu thủy hình 1.5 MW( Peter Brotherhood) lắp trên hãng tàu Danish shipyard hình 1.Tuabin- Máy phát 550 kW( Peter Brotherhood) lắp trên hãng tàu Europan shipyard 11 Tuabin hơi chu trình kín (lắp đặt trên tàu ngầm) Có một trƣờng hợp tuabin hơi AIP (air independent propulsion) đang đƣợc Pháp nghiên cứu với cái tên là hệ thống MESMA (Module d‟Energie Sous- Marin Autonome- Hệ năng lƣợng độc lập cho tàu ngầm).
Đó là tuabin thông thƣờng loại Rankine chuyển động nhờ hơi nƣớc sinh ra do đốt ethanol và O2 đem theo tại áp suất 60 at. Do áp suất cháy cao nên khí CO 2 thải ra đƣợc đẩy ra ngoài dễ dàng trong khi đang lặn. Ba hệ thống này đã đƣợc Pháp đặt trên tàu ngầm Agosta 90B cung cấp cho Pakistan. Tuabin hơi TC2F40 của Tập đoàn Mitsubishi Đƣợc nghiên cứu chế tạo từ những năm đầu của thế kỷ này, Tập đoàn Mitsubishi (MHI Nhật) hiện đã sản xuất và lắp đặt hơn 1.585 tổ máy tuabin hơi ở hơn 60 quốc gia trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam.
Tuabin hơi TC2F40 (50Hz, 3.000rpm) là loại 2 xylanh hàng dọc, tái sấy ngƣng hơi đơn và thoát hơi theo 2 hƣớng do MHI thiết kế, chế tạo và lắp đặt lần đầu tiên tại Việt Nam từ năm 2001 thông qua dự án Nhà máy nhiệt điện Chu trình hỗn hợp Phú Mỹ 1. TC2F40 có công suất thiết kế 390MW ở cấu hình 3-3-1 (3GTs, 3HRSGs, 1ST), vận hành nhiên liệu gas với nhiệt độ môi trƣờng là 320 C và nhiệt độ nƣớc làm mát đầu vào bình ngƣng là 300 C. Các thông số kỹ thuật cơ bản của Tuabin hơi TC2F40 nhƣ sau: Các tầng cánh tuabin đƣợc thiết kế ở dạng phản lực (reaction), trong đó tuabin cao áp (HP) là 14 tầng, tuabin trung áp (IP) là 11 tầng, tuabin hạ áp (LP) là 10 tầng - 5 tầng mỗi hƣớng và tầng cánh cuối có chiều dài lên đến 40in.