Mở đầu. Tổng quan về yêu cầu đảm bảo độ tin cậy cho lưới điện phân phối Việt Nam. Phương pháp và công cụ đánh giá độ tin cậy cho lưới điện phân phối. Đánh giá hiệu quả các biện pháp nâng cao độ tin cậy cho lưới điện trung áp 22kV quận Hoàn kiếm, Hà Nội.
- Kết luận chung. YÊU CẦU ĐẢM BẢO ĐỘ TIN CẬY CUNG CẤP ĐIỆN CHO LƢỚI PHÂN PHỐI 1.1 Độ tin cậy cung cấp điện của lƣới điện phân phối 1.1 Một số khái niệm và định nghĩa Theo [2] thì “Độ tin cậy là xác suất để hệ thống hoặc phần tử hoàn thành triệt để nhiệm vụ yêu cầu trong một khoảng thời gian nhất định và trong điều kiện vận hành xác định”. Như vậy có thể thấy là độ tin cậy luôn gắn với việc hoàn thành một nhiệm vụ cụ thể, trong khoảng thời gian nhất định và trong hoàn cảnh nhất định, tức là gắn với chức năng của hệ thống, hoặc phần tử. Mức đo độ tin cậy là xác suất hoàn thành nhiệm vụ trong khoảng thời gian xác định.
Xác suất này được gọi là độ tin cậy của hệ thống hay phần tử. Trong đó xác suất là đại lượng thống kê, do đó độ tin cậy là khái niệm có tính thống kê từ kinh nghiệm làm việc trong quá khứ của hệ thống. Đối với hệ thống phục hồi như hệ thống điện và các phần tử của nó, khái niệm khoảng thời gian xác định không có ý nghĩa bắt buộc, vì hệ thống làm việc liên tục. Do đó độ tin cậy được đo bởi một đại lượng thích hợp hơn, đó là độ sẵn sàng.
Độ sẵn sàng là xác suất để hệ thống (hay phần tử) hoàn thành hoặc sẵn sàng hoàn thành nhiệm vụ trong thời điểm bất kỳ. Độ sẵn sàng cũng là xác suất để hệ thống ở trạng thái tốt trong thời điểm bất kỳ và được tính bằng tỷ số giữa thời gian hệ thống ở trạng thái tốt với tổng thời gian hoạt động. Ngược lại với độ sẵn sàng là độ không sẵn sàng, đó là xác suất để hệ thống hay phần tử ở trạng thái hỏng. Đối với hệ thống điện độ sẵn sàng (cũng được gọi chung là độ tin cậy) hoặc độ không sẵn sàng chưa đủ để đánh giá độ tin cậy trong các bài toán cụ thể, do đó phải sử dụng thêm nhiều chỉ tiêu định lượng khác cũng có tính xác suất.
Phân loại bài toán độ tin cậy Các bài toán đánh giá độ tin cậy của hệ thống điện được phân chia thành các bài toán nhỏ theo cấu trúc như sau (theo [2,9]): Hệ thống nguồn điện Cấp 1 Hệ thống truyền tải điện Cấp 2 Hệ thống phân phối điện Cấp 3 Đo đạc, Khách hàng cuối thống kê Bài toán đánh giá độ tin cậy của Hệ thống điện Hình 1.1 Các bài toán đánh giá độ tin cậy trong hệ thống điện Như vậy bài toán đánh giá độ tin cậy của hệ thống điện được chia làm bốn loại: - Bài toán về độ tin cậy của hệ thống phát, chỉ xét riêng các nguồn điện; - Bài toán về độ tin cậy của hệ thống điện, xét cả nguồn điện đến các nút tải hệ thống do lưới hệ thống cung cấp điện; - Bài toán về độ tin cậy của lưới truyền tải và lưới phân phối; - Bài toán về độ tin cậy của phụ tải. Bên cạnh đó, tùy theo mục đích khảo sát cụ thể, bài toán độ tin cậy trong hệ thống điện có thể được chia làm 2 nhóm là: - Bài toán quy hoạch, phục vụ quy hoạch phát triển hệ thống điện; 11 - Bài toán vận hành, phục vụ vận hành hệ thống điện. Còn theo nội dung tính toán phân tích, bài toán đánh giá độ tin cậy có thể được chia thành các loại sau: - Bài toán giải tích, nhằm mục đích tính toán các chỉ tiêu độ tin cậy của hệ thống điện có cấu trúc cho trước. - Bài toán tổng hợp, nhằm xác định trực tiếp thông số của một phân tử nào đó trên cơ sở cho trước yêu cầu độ tin cậy và các thông số của các phần tử còn lại.
Bài toán tổng hợp trực tiếp rất phức tạp do đó chỉ có thể áp dụng trong những bài toán nhỏ, hạn chế. Các bài toán tổng hợp lớn cho nguồn điện và lưới điện vẫn phải dùng phương pháp tổng hợp gián tiếp, tức là lập nhiều phương án rồi tính chỉ tiêu độ tin cậy bằng phương pháp giải tích để so sánh, chọn phương án tối ưu. Mỗi loại bài toán về độ tin cậy đều gồm có bài toán quy hoạch và vận hành. Mỗi bài toán lại bao gồm loại giải tích và tổng hợp.
Bài toán phân tích độ tin cậy có ý nghĩa rất quan trọng trong quy hoạch, thiết kế cũng như vận hành hệ thống điện. Nội dung bài toán này là tính các chỉ tiêu độ tin cậy của một bộ phận nào đó của hệ thống điện từ các thông số độ tin cậy của các phần tử của nó, ví dụ tính độ tin cậy của một trạm biến áp, một phần sơ đồ lưới điện… Các chỉ tiêu độ tin cậy bao giờ cũng gắn liền với tiêu chuẩn hỏng hóc (hay tiêu chuẩn hoàn thành nhiệm vụ) nào đó do người phân tích độ tin cậy đặt ra. Tuy nhiên các kết quả nói chung cũng vẫn sử dụng được trong quy hoạch cũng như vận hành hệ thống điện. Các giả thiết cũng khác nhau trong bài toán về độ tin cậy phục vụ quy hoạch cũng như vận hành hệ thống điện.
Bài toán về độ tin cậy phục vụ quy hoạch nhằm xác định việc đưa thêm thiết bị mới, thay đổi cấu trúc hệ thống điện trong các năm tiếp theo. Còn bài toán về độ tin cậy phục vụ vận hành nhằm kiểm nghiệm hoặc lựa chọn sách lược vận hành hệ thống điện có sẵn. Hai loại bài toán này có phần cơ bản giống nhau, tức là mô hình chung của hệ thống điện. 12 Trong nội dung luận văn này, bài toán được áp dụng là đánh giá định lượng độ tin cậy theo cấu trúc của lưới điện phân phối nhằm phục vụ cho các tính toán so sánh kinh tế kỹ thuật trong quy hoạch (các phương án lưới điện chưa vận hành) trên cơ sở cách tiếp cận xác suất mất điện cho phụ tải.
Các chỉ tiêu đánh giá độ tin cậy của lưới phân phối điện Đối với hệ thống điện nói chung, độ tin cậy có thể được đánh giá bởi một số chỉ tiêu như sau ([2,9,11,12]): - Xác suất thiếu điện cho phụ tải (Loss Of Load Probability), hay là xác suất công suất phụ tải lớn hơn công suất nguồn điện. - Kỳ vọng thiếu điện cho phụ tải (Loss Of Load Expectation), hay là thời gian mất điện trung bình. - Kỳ vọng điện năng thiếu cho phụ tải (Expected Energy Not Supplied), đó là lượng điện năng trung bình các phụ tải bị cắt do ngừng cung cấp điện. - Thiệt hại kinh tế tính bằng tiền do mất điện.
Đối với lưới điện phân phối, trực tiếp cung cấp điện cho các khách hàng sử dụng điện, độ tin cậy cung cấp điện thường được đánh giá theo các tiêu chí hướng tới khách hàng (customer oriented indexes). Một số tiêu chí chủ yếu được định nghĩa trong bộ tiêu chuẩn quốc tế IEEE-P1366 ([10]) như sau - Thời gian mất điện trung bình của hệ thống: SAIDI = tổng thời gian mất điện của phụ tải trên tổng số phụ tải: TmđTB = SAIDI = ΣriNi/NT (giờ/phụ tải.1) Trong đó: ri là thời gian mỗi lần mất điện; Ni là số lần mất điện; NT là tổng số khách hàng được phục vụ. - Tần suất hay số lần mất điện trung bình của hệ thống: là tổng số lần mất điện của tất cả các phụ tải trên tổng số phụ tải NT. Chỉ tiêu này cho biết số lần mất điện trung bình cho trên mỗi phụ tải trong một khu vực trong một năm.
13 NT n i SAIFI i 1 (số lần/phụ tải.2) NT - Thời gian mất điện trung bình của khách hàng CAIDI. Chỉ tiêu này cho biết thời gian mất điện trung bình của mỗi vụ mất điện.3) Ni Trong đó: ri là thời gian của mỗi lần mất điện; Ni là số lượng khách hàng bị mất điện của mỗi lần mất điện duy trì. - Tần suất (số lần) mất điện trung bình của khách hàng bằng tổng số lần mất điện trên tổng số phụ tải CAIFI. Chỉ tiêu này cho biết số lần mất điện trung bình cho trên mỗi khách hàng.
CAIFI = Σni/CN (số lần mất điện/khách hàng.4) Với: CN là số khách hàng bị mất điện - Chỉ tiêu khả năng sẵn sàng phục vụ trung bình: ASAI. Chỉ tiêu này cho biết thời gian trung bình (tính theo %) mà khách hàng được cấp điện trong một năm.8760 ri Ni ASAI (%) (NT là tổng số khách hàng) (1.8760 - Chỉ tiêu tổng thời gian mất điện trung bình của khách hàng: CTAIDI bằng tổng thời gian mất điện của khách hàng trên tổng khách hàng bị mất điện.6) CN Với: CN là số khách hàng bị mất điện - CEMIn là chỉ số ứng dụng đặc biệt, lấy từ số lượng lớn khách hàng có số lần mất điện lớn hơn quy định. Mục đích là nhận ra những khó khăn của khách hàng mà không thể thấy qua các chỉ số trung bình.7) NT 14 - Chỉ tiêu thời gian mất điện duy trì của hệ thống ASIDI bằng tổng thời gian mất điện của phụ tải được kết nối trên tổng công suất tải nối vào hệ thống.8) LT Trong đó Li: là công suất phụ tải mất điện, LT là tổng công suất phụ tải - Chỉ tiêu tần suất mất điện duy trì ASIFI bằng tổng công suất kết nối của phụ tải bị mất điện trên tổng công suất tải nối vào hệ thống: ASIDI i L (1.9) LT - CEMSMIn là chỉ số dùng cho những khách hàng riêng biệt mà những chỉ số trung bình không thể nhận ra. Nó dùng để theo dõi số lượng n khách hàng phải trải qua nhiều lần mất điện kéo dài và thoáng qua CNT( k n ) CEMSMIn (1.10) NT Trong đó CNT(k>n) là số khách hàng có số lần mất điện lớn hơn n.
- Chỉ tiêu tần suất mất điện thoáng qua trung bình: MAIFI. Chỉ tiêu này tương tự như SAIFI, nhưng nó sử dụng sự kiện thoáng qua MAIFI IM N i mi (1.11) NT Trong đó: Imi là số lần mất điện thoáng qua; Nmi là số khách hàng bị mất điện thoáng qua. - Chỉ tiêu điện năng trung bình không được cung cấp: AENS bằng tổng điện năng không được cung cấp trên tổng khách hàng.12) Trong đó: La(i) là điện năng bị mất của phụ tải i - Chỉ tiêu cắt điện trung bình hàng năm: ACCI ACCI = = ΣLa(i)/ΣNi (1. Yêu cầu đảm bảo độ tin cậy cho lƣới phân phối tại Việt Nam 1.