Phần mở đầu. Tổng quan về độ tin cậy cung cấp điện của hệ thống điện và lưới phân phối. Đánh giá độ tin cậy cho lưới điện phân phối. Áp dụng tính toán nâng cao độ tin cậy cho xuất tuyến lưới điện trung áp 455 E1.14 quận Ba Đình, Hà Nội bằng phương pháp phân đoạn.
So sánh kinh tế và đánh giá hiệu quả của các biện pháp nâng cao độ tin cậy đối với xuất tuyến 455 E1.14 - Nhận xét và kết luận chung. TỔNG QUAN VỀ ĐỘ TIN CẬY CUNG CẤP ĐIỆN CỦA HỆ THỐNG ĐIỆN VÀ LƢỚI PHÂN PHỐI.1 Khái niệm chung về độ tin cậy của hệ thống điện Hệ thống điện và các phần tử: Phần tử là những bộ phận tạo thành hệ thống mà trong một quá trình nhất định, được xem như một tổng thể duy nhất không thể chia cắt được, đặc trưng bởi các thông số độ tin cậy chung, chỉ phụ thuộc các yếu tố bên ngoài như môi trường chứ không phụ thuộc vào cấu trúc bên trong của phần tử ([1,2]). Bởi vì bản thân phần tử cũng có thể có cấu trúc phức tạp, nếu xét riêng nó là một hệ thống. Hệ thống điện là tập hợp các phần tử tương tác trong một cấu trúc nhất định nhằm thực hiện một nhiệm vụ xác định, có sự điều khiển thống nhất trong hoạt động cũng như tiến tới sự phát triển.
Khái niệm độ tin cậy ([2]): Độ tin cậy là xác suất để hệ thống (hoặc phần tử) hoàn thành triệt để nhiệm vụ yêu cầu trong khoảng thời gian nhất định và trong điều kiện vận hành nhất định. Như vậy độ tin cậy luôn gắn với việc hoàn thành một nhiệm vụ cụ thể, trong khoảng thời gian nhất định và trong hoàn cảnh nhất định. Mức đo độ tin cậy là xác suất hoàn thành nhiệm vụ trong khoảng thời gian xác định. Xác suất này được gọi là độ tin cậy của hệ thống (hay phần tử).
Xác suất là đại lượng thống kê, do đó độ tin cậy là khái niệm có tính thống kê từ kinh nghiệm làm việc trong quá khứ của hệ thống (hay phần tử). Đấy là đối với hệ thống (hay phần tử) không phục hồi. Đối với hệ thống (hay phần tử) phục hồi như hệ thống điện và các phần tử của nó, khái niệm khoảng thời gian xác định không có ý nghĩa bắt 10 buộc, vì hệ thống làm việc liên tục. Do đó độ tin cậy được đo bởi một đại lượng thích hợp hơn, đó là độ sẵn sàng.
Độ sẵn sàng là xác suất để hệ thống (hay phần tử) hoàn thành hoặc sẵn sàng hoàn thành nhiệm vụ trong thời điểm bất kỳ. Độ sẵn sàng cũng là xác suất để hệ thống ở trạng thái tốt trong thời điểm bất kỳ và được tính bằng tỷ số giữa thời gian hệ thống ở trạng thái tốt với tổng thời gian hoạt động. Ngược lại với độ sẵn sàng là độ không sẵn sàng, đó là xác suất để hệ thống (hay phần tử) ở trạng thái hỏng. Đối với hệ thống điện độ sẵn sàng (cũng được gọi chung là độ tin cậy) hoặc độ không sẵn sàng chưa đủ để đánh giá độ tin cậy trong các bài toán cụ thể, do đó phải sử dụng thêm nhiều chỉ tiêu khác cũng có tính xác suất.
Trong hệ thống điện nói chung, độ tin cậy có thể được đánh giá bởi một số chỉ tiêu như sau ([2,9,11,12]): - Xác suất thiếu điện cho phụ tải (Loss Of Load Probability), hay là xác suất công suất phụ tải lớn hơn công suất nguồn điện. - Kỳ vọng thiếu điện cho phụ tải (Loss Of Load Expectation), hay là thời gian mất điện trung bình. - Kỳ vọng điện năng thiếu cho phụ tải (Expected Energy Not Supplied), đó là lượng điện năng trung bình các phụ tải bị cắt do ngừng cung cấp điện. - Thiệt hại kinh tế tính bằng tiền do mất điện.2 Trạng thái hỏng hóc của hệ thống điện Trạng thái của phần tử: Phần tử của hệ thống điện có thể ở các trạng thái khác nhau phụ thuộc vào tình trạng kỹ thuật và chức năng của chúng.
Mỗi trạng thái kéo dài trong khoảng thời gian nhất định. 11 Đặc trưng của trạng thái là: thời gian trạng thái, xác suất trạng thái và tần suất trạng thái. Tất cả các trạng thái có thể xảy ra của một phần tử tạo thành tập đủ các trạng thái của phần tử. Việc phần tử ở trạng thái nào trong tập đủ các trạng thái là đại lượng ngẫu nhiên được đo bởi xác suất phần tử ở trạng thái đó hay gọi tắt là xác suất trạng thái.
Tổng xác suất trạng thái của tập đủ các trạng thái bằng 1. Phần tử bao giờ cũng ở một trong những trạng thái của tập đủ các trạng thái. Các trạng thái có xác suất nhỏ có thể bỏ qua trong các bài toán khác nhau. Xác suất trạng thái tốt của phần tử chính là độ sẵn sàng, còn xác suất trạng thái hỏng chính là độ không sẵn sàng.
Trạng thái của hệ thống điện: Trạng thái của hệ thống điện là tổ hợp các trạng thái của tất cả các phần tử tạo thành nó. Nói cách khác, mỗi trạng thái của hệ thống điện là sự xảy ra đồng thời các trạng thái nào đó của các phần tử. Do đó xác suất trạng thái của hệ thống điện chính là tích của các xác suất trạng thái của các phần tử nếu giả thiết rằng các phần tử của hệ thống điện độc lập với nhau. Đối với hệ thống điện giả thiết này là đúng với hầu hết các phần tử và do đó được áp dụng trong hầu hết các bài toán độ tin cậy.
Các trạng thái của hệ thống điện được phân chia theo tiêu chuẩn hỏng hóc hệ thống điện, tiêu chuẩn này được lựa chọn khi nghiên cứu độ tin cậy, phụ thuộc vào mục đích của bài toán cụ thể.3 Yêu cầu đánh giá độ tin cậy trong vận hành và quy hoạch thiết kế lƣới điện Các nguyên nhân gây mất điện Hệ thống điện là một hệ thống lớn gồm nhiều phần tử, liên kết với nhau theo những sơ đồ phức tạp. Hệ thống điện thường nằm trên địa bàn rộng của một quốc gia hay vùng lãnh thổ. Khi các phần tử của hệ thống hư hỏng có thể dẫn đến ngừng cung cấp điện cho khách hàng cho từng vùng hoặc toàn hệ thống. Nguyên nhân gấy mất điện có rất nhiều, người ta phân ra thành bốn nhóm nguyên nhân chính như sau: - Do thời tiết: lũ lụt, mưa bão, lốc xoáy, giông sét, sóng thần… - Do hư hỏng các thành phần của hệ thống điện như + Phần điện và phần máy; + Bảo vệ và điều khiển; - Do hoạt động của hệ thống như : + Do trạng thái của hệ thống (phụ tải, khả năng ổn định, thông số hoạt động…); + Do nhân viên vận hành (điều độ, bảo dưỡng…); - Các nguyên nhân khác (môi trường, tác động của ngoại vật….) Theo thống kê khoảng 50% sự cố được khôi phục trong khoảng thời gian 60 phút.
Khoảng 90% sự cố lớn được khôi phục trong khoảng 7 giờ (theo [2]). Kinh nghiệm cho thấy rằng, hầu hết các sự cố của lưới phân phối bắt nguồn từ yếu tố thiên nhiên như: sét, bão, mưa, lũ lụt, động vật… Những sự mất điện khác có thể quy cho khiếm khuyết của thiết bị, vật liệu và hành động của con người như: xe ôtô đâm phải cột, phương tiện chạm vào dây dẫn, cây đổ, phá hoại, máy đào phải cáp ngầm. Một số sự cố nguy hiểm và lan rộng trong hệ thống phân phối do bão, lũ lụt. Trong trường hợp đó sự 13 phục hồi cấp điện bị ngăn cản bởi những nguy hiểm, và hầu hết các đơn vị điện lực không có đủ người, phương tiện, máy móc thiết bị để phục hồi nhanh lưới điện trên một vùng địa lý rộng lớn và phức tạp.
Nhìn chung, có thể phân chia, sắp xếp lại để giảm thiểu số lượng khách hàng bị ảnh hưởng của hỏng hóc thiết bị hoặc thời gian mất điện là nhỏ nhất. Sẵn sàng hoạt động là sự lựa chọn duy nhất của ngành điện để nâng cao độ tin cậy. Giảm thiểu thời gian mất điện, bằng cách kịp thời sửa chữa thiết bị hư hỏng. Việc phối hợp giữa lập kế hoạch bảo trì phòng ngừa với phân tích độ tin cậy có thể rất hiệu quả.
Việc phân tích sự cố giúp xác định rõ những điểm yếu nhất của hệ thống phân phối và giải quyết nhanh và chính xác các điểm đó. Sự phân tích được thực hiện chỉ ở những khúc quan trọng của hệ thống. Những thông tin kết quả được sử dụng trong quyết định xây dựng hệ thống tới mức an toàn nào đó hoặc chấp nhận rủi ro mất điện. Ảnh hưởng của độ tin cậy đến cấu trúc lưới điện Điện năng là động lực chính của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Việc mất điện sẽ gây ra các hậu quả xã hội, kinh tế rất lớn. Theo hậu quả của mất điện, các phụ tải được chia làm 2 nhóm: - Nhóm phụ tải mà sự mất điện gây ra các hậu quả mang tính chính trị - xã hội. - Nhóm phụ tải mà sự mất điện gây ra hậu quả kinh tế. Đối với nhóm trên, các hộ phụ tải cần được cấp điện với độ tin cậy cao nhất có thể (thong thường là cấp điện từ 2 nguồn).
Còn đối với các loại thuộc nhóm sau là bài toán kinh tế - kỹ thuật trên cơ sở cân nhắc giữa vốn đầu tư vào hệ thống điện và tổn thất kinh tế do mất điện. Tổn thất kinh tế có thể nhìn từ quan điểm hệ thống điện hoặc quan điểm của khách hàng. Tổn thất này được tính toán từ các tổn thất thật ở phụ tải và theo các quan điểm của hệ thống điện. Nó nhằm phục vụ công việc thiết 14 kế, quy hoạch hệ thống điện sao cho thỏa mãn được nhu cầu về độ tin cậy của phụ tải, đồng thời đảm bảo hiệu quả kinh tế của hệ thống điện.
Tổn thất do độ tin cậy được tính cho lưới phân phối, lưới truyền tải và nguồn điện một cách riêng biệt. Nó cũng được tính cho từng loại phụ tải cho một lần mất điện, cho 1 kW hoặc 1kWh tổn thất và cũng được tính cho độ dài thời gian mất điện. Phân tích độ tin cậy nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố bên trong và bên ngoài đến độ tin cậy của hệ thống điện. Các yếu tố ảnh hưởng đến độ tin cậy của hệ thống điện là: - Độ tin cậy của phần tử: + Cường độ hỏng hóc, thời gian phục hồi.
+ Sửa chữa định kỳ. + Ngừng điện công tác. - Cấu trúc của hệ thống: - Sự ghép nối giữa các phần tử trong sơ đồ trạm, hình dáng lưới điện. - Khả năng thao tác và đổi nối trong sơ đồ (tự động hoặc bằng tay).