CHƯƠNG 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CHAT LƯỢNG NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu về chất lượng nhân lực Nhân lực là lĩnh vực rất phức tạp và đang phát triển do đó đã có khá nhiều công trình trong và ngoài nước nghiên cứu về chủ đề nhân lực, chất lượng nhân lực và phát triển nhân lực. Có thé ké đến một số công trình sau: Các nhà nghiên cứu và các học giả dưới các góc độ nghiên cứu khác nhau cũng có những nhận định về CLNNL theo giác độ tiếp cận và cái nhìn của họ.Healthfield - một chuyên gia về NNL, là thành viên của Hiệp hội quản lý NNL và Hội đào tạo và phát triển Mỹ.
Dưới góc độ là một chuyên gia nghiên cứu về NNL cũng như là một nhà quản lý, Susan Healthfield đã đưa ra những tiêu chí được coi là thước đo về CLNNL trong DN bao gom: sự nhận thức, kỹ năng làm việc, ứng dung công nghệ, thái độ, su tin tưởng, sự nhạy cam, đặc tính cá nhân. Trong cách đánh giá này dé cao ý thức, văn hóa, kỷ luật lao động tốt dan đến năm bắt, nhận thức và hội tụ được các kiến thức và kỹ năng cần thiết cho sự thực hiện công việc của NNL hiện đại. Trong cách nhìn nhận này cũng đề cao những tư tưởng và giá trị cá nhân, những cảm nhận của bản thân mỗi người về ý nghĩa của cuộc sống và những hoạt động để được xã hội công nhận công hiến của NNL. Tuy nhiên, nhược điểm của sự đánh giá này ở chỗ: Những giá trị về mặt tư tưởng này không phải bat cứ một người nao, ở bat kỳ tầm nhận thức nào cũng có thé hiểu rõ được tư tưởng và giá trị đó.
Do đó, có những hiện tượng biến cái tư duy đó thành cái tôi cá nhân chứ không phải sự cống hiến trí tuệ để được công nhận trong doanh nghiệp, xã hội. Một nghiên cứu của William R.Racey trong cuỗn The Human Resources 5 Glossary: The Complete Desk Reference for HR Executives, Managers, and Practitioners (1991) đã nhìn nhận NNL của tổ chức là tat cả những người làm việc trong tổ chức đó, là tài sản của tô chức đó nhưng không giống tài lực hay vật lực, mà tài sản này biết tạo ra các mối quan hệ, giao dịch và làm giàu cho tổ chức. Chính vì có quan niệm như vậy nên việc đánh giá tai sản đó có chất lượng hay không thì phải có kiến thức để làm việc, có ý thức làm việc để tạo ra của cải làm giàu cho tô chức. Tác gia Gill Palmer - Trường đại hoc Wollongong (New South Wales, Australia), đã có rất nhiều nghiên cứu khoa học khác nhau.
Đặc biệt trong cuốn British Industrial Relations (1993) cùng với tác gia Howard F.Gospel, đã tìm hiểu mới quan hệ giữa người LD và người sử dung LD trong quan hệ LD ở Anh và đánh giá về CLNNL thông qua mối quan hệ. Tuy nhiên, mỗi quốc gia lại có môi trường, điều kiện sống và làm việc, tốc độ phát triển kinh tế không giống nhau nên các đánh giá mang tính chất tham khảo, áp dụng trong từng thời kỳ hoặc thời điểm nhất định. - Phong Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), 2007, Doanh nghiệp Việt Nam 2007, Lao động và phát triển nguồn nhân lực: Đây là báo cáo thường niên về Doanh nghiệp Việt Nam. Các tác giả đã đánh giá tông quan về môi trường kinh doanh của Việt Nam 2007, phân tích các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trên 4 khía cạnh: lao động, tài chính, công nghệ và tiếp cận thị trường trong 6 ngành (dệt may, xây dựng, du lịch, ngân hang, bảo hiểm, sản xuất chế biến thực phẩm) bi ảnh hưởng nhiều nhất của việc Việt Nam gia nhập WTO từ các vấn đề lao động và phát triển nguồn nhân lực.
Phần III của báo cáo là Lao động và phát triển nguồn nhân lực. Phần này phân tích về thực trạng lao động và phát triển nguồn nhân lực trên cơ sở xem xét, so sánh tác động của yếu tố lao động đối với các ngành đã nêu, đồng thời đưa ra giải pháp chiến lược đối với việc phát triển nguồn nhân lực 6 của các ngành này. Đây là những đóng góp có giá trị không chỉ cho doanh nghiệp mà cho cả các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam. - Bùi Sỹ Tuan (2012), Nang cao chất lượng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng nhu cau xuất khẩu lao động của Việt Nam đến năm 2020, luận văn tiễn sỹ, Đại học Kinh té quéc dan.
Cac van dé ly luan vé nhan luc, chat luong nhan luc va nang cao chat luong nguồn nhân lực được hệ thống trong luận án là nguồn tham khảo cho tác giả. Trong luận án tác giã đã nghiên cứu chất lượng nguồn nhân lực phục vụ nhu cầu xuất khẩu lao động, luận án đã chỉ rõ các yếu tố câu thành chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu xuất khẩu lao động. Tác giả cũng đề xuất hệ thống các tiêu chí đánh giá chất lượng nguồn nhân lực hướng tới nhu cầu xuất khâu lao động, bao gồm: Tiêu chí đánh giá về thé lực, tiêu trí đánh giá về giáo dục - đào tạo và tiêu chí đánh giá về ý thức xã hội. Tuy nhiên do tác giả nghiên cứu cho đối tượng có nhu cầu xuất khâu lao động nên những đề xuất tiêu chí của tác giả chỉ áp dụng một phần chứ không thể cho tất cả các ngành.
- T6 Ngọc Hung và Nguyễn Đức Trung (2010), Phát triển nguôn nhân lực chất lượng cao cho ngành ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2010-2020, đề tài khoa học, Tạp chí khoa học và Đào tạo Ngân hàng số 69, quý II, Học viện Ngân hàng, đưa ra một số quan điểm về nguồn nhân lực chất lượng cao. Theo tác giả thì “nguồn nhân lực chất lượng cao bao gồm những lao động qua đào tạo, được cấp bằng, chứng chỉ của các bậc đào tạo và có khả năng đáp ứng những yêu cau phức tạp của công việc tương ứng với trình độ được đào tạo; từ đó tạo ra năng suất và hiệu quả cao trong công việc, có những đóng góp đáng kề cho sự tăng trưởng và phát triển của mỗi don vị nói riêng và toàn xã hội nói chung”. Hơn nữa, tác giả dua ra các tiêu chí đánh giá nguồn nhân lực chất lượng cao, thực trạng và nguyên nhân. Cuối cùng tác giả cũng đưa ra các giải pháp thực hiện chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao 7 - Lưu Dinh Chinh (2015), Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quản lý ở các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong quá trình hội nhập, bài viết, Tạp chí Cộng sản điện tử ngày 16/03/2015, đưa ra thực trạng chất lượng quản lý của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam, nguyên nhân thất bại của các doanh nghiệp này chính là chất lượng nhân lực đặc biệt là nhân lực quản lý, từ đó đưa ra các giải pháp trước mắt và lâu dai dé các doanh nghiệp nhỏ và vừa có thê cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN (EAC) sắp được thành lập ngày 31/12/2015.
Tuy nhiên bài viết chỉ đề cập đến việc nâng cao chất lượng cho đối tượng làm công tác quản lý, còn các đối tượng khác như nhân viên thì chưa đưa ra được giải pháp. - Nguyễn Thuan Vân (2015), Mét số giải pháp nâng cao chất lượng nguôn nhân lực ngân hàng, bài viết, Trường Đào tạo & PTNNL Ngân hàng Vietinbank, đưa ra một số thực trạng trong chất lượng nhân lực trong ngành ngân hàng, đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao trình độ của nhân viên thông qua việc đào tạo kiến thức nghiệp vụ cũng như kỹ năng mềm cho nhân viên. Ở đây tác giả đưa ra một số biện pháp có thê tự ngân hàng thực hiện được thông qua việc đảo tạo nhân lực, còn một số biện pháp khác chưa đề cập đến. Như vậy, có thể nói dưới mỗi góc nhìn khác nhau chúng ta lại có một quan điểm dé đưa ra những nhận xét và sử dụng làm thước đo về CLNNL theo quan điểm riêng đó.
Để có những đánh giá thống nhất hơn đối với CLNNL, tô chức Liên hợp quốc đã đưa ra một thang đo mang tính tổng hợp: đó là trình độ lành nghé, là kiến thức của toàn bộ cuộc sống của con người, là tiềm năng dé phát triển KTXH và cho cộng đồng. Tuy nhiên, đây là một cách nhìn tong quát về CLNNL chung cho tất cả các quốc gia, các ngành và các tô chức có sử dụng nguồn lực con người. Nếu áp dụng cách đánh giá này cho các ngành riêng lẻ, cho từng DN trong mỗi lĩnh vực hoạt động khác nhau sẽ không có tinh cụ thé và chính xác. Do đó, tùy theo từng khu vực, từng ngành § nghề với môi trường sống và làm việc khác nhau cần có các tiêu thức chỉ tiết và cụ thé hon dé đánh giá về CLNNL.
Tình hình nghiên cứu tai Ngân hàng HDBank Hiện nay, theo tìm hiểu của tác giả thì tai Ngân hàng HDBank đã có một số công trình nghiên cứu cấp thạc sĩ như: - “Nâng cao hiệu quả huy động vốn khối khách hang cá nhân tại Ngân hàng HDBank chi nhánh Ba Dinh Hà Nội” — Lê Thi Hong Nhung (2014), Học vién tai chinh - “Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại © Ngan hang TMCP phat triển nhà TP.HCM (HDBank)” của Lê Thị Quỳnh Trang (2010), trường Đại học Kinh Tế Thành pho Hô Chí Minh. Các luận văn này đều nghiên cứu về các vấn đề về nghiệp vụ tín dụng trong ngân hàng, chứ chưa có công trình nghiên cứu về chất lượng nhân lực trong ngân hàng HDBank. Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sẽ tiếp tục tiếp thu, kế thừa các nghiên cứu trước đó về quan điểm nguồn nhân lực trong tổ chức, từ đó phát triển thêm. Chính vì vậy đề tài “Chất lượng chuyên viên quan hệ khách hàng tại Ngân hàng HDBank” chưa có tác giả nào từng nghiên cứu, do đó có tính mới không bị trùng lặp.
Cơ sở lý luận về chất lượng nhân lực trong doanh nghiệp 1. Một số khái niệm 1. Nguồn nhân lực và nhân lực trong doanh nghiệp Trong quá trình phát triển của các hình thái KTXH, từ lý thuyết cho đến thực tế các nhà kinh tế hay quản lý trong nước và trên thế giới trước đây đều sử dụng thuật ngữ “lực lượng lao động” thay cho thuật ngữ “nguồn nhân lực”. Ngày nay, thuật ngữ “nguồn nhân lực” được sử dụng phổ biến và thé hiện tinh khoa học trong việc chỉ ra nguồn lực con người cả về số lượng, chất lượng và tầm quan trọng của con người trong sự phát triển KTXH.