CHƯƠNG 1. TONG QUAN VE EJECTOR TRONG MAY LANH 1.1 Nhu cầu sử dụng điều hòa không khí hiện nay trên thế giới Những năm gần đây, việc sử dụng điều hòa không khí đã trở nên phố biến trên toàn câu. Với sự gia tăng của nhiệt độ và độ âm, đặc biệt là trong các khu vực đô thị, nhu cầu sử dụng điều hòa không khí ngày cảng tăng cao. Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự tăng trưởng của nhu cầu sử dụng điều hòa không khí trên thế giới là sự thay đổi khí hậu trên toàn cầu.
Khi nhiệt độ tăng, độ am cũng tăng theo, ảnh hưởng đến sức khỏe, sinh hoạt, đời sống và sản xuất của con người. Điều hòa không khí giúp hiệu chỉnh nhiệt độ và độ âm trong không khí, giúp cho con người có môi trường sống, sinh hoạt và làm việc thoải mái hơn.12 Thị trường điều hòa không khí Hiện nay, quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa đang diễn ra mạnh trên toàn thé giới. Theo một số dự đoán, gần 70% dân số thế giới sẽ cư trú tại các thành phố vào năm 2050. Do đó, nhu cầu về hệ thống điều hòa không khí và làm mát ngày cảng tăng.
Dựa trên nghiên cứu của IEA, mức tiêu thụ điện cho lĩnh vực làm mát chiếm khoảng 16% tổng sản lượng điện toàn cầu vào năm 2016, cao hon gap ba lần so với năm 1990. Con số này dự kiến sẽ tăng lên khoảng 30% vào năm 2030, vượt qua các ngành công nghiệp truyền thống khác và dịch vụ. Xét về số lượng thiết bị điện lạnh bán ra trên toàn thế giới, năm 2016 đạt xấp xỉ 1,1 tỷ chiếc và dự kiến sẽ đạt khoảng 2 tỷ chiếc vào năm 2030 [1] [2]. Ở Việt Nam, tương tự như các nước khác trên thế ĐIỚI, CÓ tốc độ công nghiệp hóa cao và số lượng nhà cao tầng tăng hàng năm từ 10-12%.
Điều này đã dẫn đến sự tăng trưởng đáng kế của thị trường Lạnh & ĐHKK của Việt Nam từ năm 1995 đến năm 2018, với tốc độ tăng trưởng hai con số được duy trì trong nhiều năm. Trong hai năm qua, thị trường điện lạnh toàn cầu có sự chững lại đáng ké do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, khu vực ASEAN có mức sụt giảm từ 17-21% tùy ngành. Tuy nhiên, Việt Nam nổi lên là thị trường ít bị ảnh hưởng hơn nhờ các chính sách chống dịch hợp lý của Chính phủ, với mức suy giảm ước tính chỉ khoảng 8% [2]. Mặc dù vậy, nhiều nhà thầu sản xuất, cung ứng và xây dựng đang gặp khó khăn trong giai đoạn thử thách này.
Tuy nhiên, dân sô đông, tỷ lệ sử dụng máy lạnh và điều hòa không khí trong gia đình của Việt Nam thấp so với các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới, cùng với quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa đang diễn ra mang lại hy vọng về một tương lai tươi sáng cho lĩnh vực Lạnh & ĐHKK. Hiện nay, các thành phố trên toàn thế giới đang phải đối mặt với những thách thức đáng kề như dân số ngày cảng tăng, cơ sở hạ tầng quá tải và tốc độ đô thị hóa nhanh đã đây cơ sở hạ tầng hoạt động lên hết công suất, dẫn đến ô nhiễm không khí ở mức độ nguy hiểm. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), gần 90% dân số đô thị trên thế giới sống trong môi trường có mức độ ô nhiễm cao hơn đáng kế so với 1 ngưỡng cho phép. Ô nhiễm không khí là nguyên nhân gây ra khoảng 7 triệu ca tử vong hang nam.
WHO coi 6 nhiém 1a méi de doa toan cầu lớn hơn cả đại dịch Ebola, HIV và COVID-19 [3]. Theo Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (EPA), môi trường trong nhà có các chất ô nhiễm nguy hiểm gấp hai đến năm lần so với môi trường ngoài trời. Đây là một vấn đề nghiêm trọng vì mọi người dành trung bình 90% thời gian bên trong các tòa nhà [4]. Do các chính sách tiết kiệm năng lượng ở nhiều quốc gia, lớp vỏ công trình ngày càng trở nên kín gió, thông gió tự nhiên bị hạn chế và ô nhiễm từ các hạt bụi mm, đặc biệt là PM10 và PM2.5, ở các khu vực đô thị đang g1a tăng.
Không cung cấp không khí trong lành có tính đến ô nhiễm ngoài trời và sự tích tụ các hạt bụi mịn bên trong các tòa nhà do thông gió kém làm gia tăng ô nhiễm không khí trong nhà, có thé dẫn đến nguy cơ ung thư. Không chỉ các khu vực đô thi dang phát triển có nồng độ bụi mm cao, nhưng các thành phố phát triển cũng có mức độ bụi mịn cao. Các nguồn phát thải bụi mịn chủ yếu đến từ các nhà máy sử dụng nhiên liệu hóa thạch và phương tiện giao thông vận tải. Ví dụ: ở Milan, Ý, cứ sau hai tháng, nồng độ trung bình bụi mịn lại đạt đến mức không lành mạnh.
Năm 2016, chính quyền Pháp đã phải cắm xe ô tô vào thành phố Paris để kiểm soát mức độ ô nhiễm [5]. Chất lượng không khí ở nhiều thành phố không đảm bảo dẫn đến thị trường máy lọc không khí trên thế giới bùng nổ. Tại Nhật Bản, 60% hộ gia đình thành thị được trang bị máy lọc không khí độc lập [6]. Mặc dù điều này tạo ra kỳ vọng về không khí sạch trong các tòa nhà văn phòng và khách sạn, hệ thống thông gió tập trung trong các tòa nhà thương mại thường không lọc được các chất ô nhiễm trước khi chúng được lưu thông.
Do đó, việc chỉ dựa vào máy lọc không khí cục bộ cho các không gian cụ thể sẽ không đảm bảo chất lượng không khí. Tuy nhiên, việc tích hợp các bộ lọc bụi vào hệ thống sưởi ấm, thông gió và điều hòa không khí (HVAC) của các tòa nhà thông minh đang tỏ ra hiệu quả. Bằng cách thổi không khí qua bộ lọc quạt giúp loại bỏ ô nhiễm bụi mịn tại nguồn, không khí được làm sạch trước khi vào tòa nhà. Việc tích hợp các bộ lọc vào hệ thống cung cấp không khí trong lành của hệ thống HVAC có thể cải thiện đáng kể hiệu quả tổng thể trong việc giảm ô nhiễm bụi mịn cũng như khí SOx và NOx.
Tuy nhiên, vì bụi mịn cũng có thể xâm nhập qua nhiều lỗ nhỏ trên lớp vỏ của tòa nhà nên việc lọc không khí cục bộ cũng là cần thiết. Các nghiên cứu phát triển gần đây đã chỉ ra rằng các hệ thống điều khiển HVAC được tích hợp vào BMS thế hệ tiếp theo sẽ kết hợp khả năng đo lường các yếu tố ô nhiễm như bụi mịn trong nhà và ngoài trời. Điều này cho phép tối ưu hóa giữa việc cung cấp không khí trong lành (do đó giảm CO2 trong nhà) và gây ô nhiễm từ bên ngoài. Các thuật toán thông minh cũng dự đoán tình trạng ô nhiễm dựa trên dự báo thời tiết.
Tóm lại, không khí xung quanh có tác động đáng kẻ đến sức khỏe của chúng ta. Vì chúng ta dành phần lớn thời gian ở trong nhà, nên điều quan trọng là phải đảm bảo rằng không khí bên trong sạch sẽ và trong lành. Hệ thống thông gió phù hợp giúp mọi người làm việc hiệu quả và tránh được cái gọi là "hội chứng bệnh văn phòng". Kiểm soát mức độ ẩm trong nhà có thể làm giảm đáng kể nguy cơ lây lan vi rút Covid-19.
Ngoài ra, quản lý ô nhiễm không khí trong nhà thông qua kiếm soát bụi mịn bằng bộ lọc không khí tích hợp với hệ thống HVAC trén nén tang BMS/AI thông minh là giải pháp toàn diện để tạo môi trường lành mạnh và hiệu quả cho cư dân tòa nhà.3 Tiêu thụ năng lượng của các thiết bị điều hòa không khí Trong lĩnh vực Lạnh & ĐHKK, hệ thống HVAC (Heat Ventilation and Air Conditioning) dong mé6t vai trd quan trong trong việc cung cấp điều kiện sống thoải mái cho con người sinh sống, làm việc và thực hiện các hoạt động hàng ngày. Đây được coi là một trong những nguồn tiêu thụ năng lượng chính trong các tòa nhà. Theo [7], gần 50% nhu cầu năng lượng được sử dụng để cung cấp tiện nghỉ trong các tòa nhà thương mại. Tại Hoa Kỳ, hệ thống HV AC chiếm 50% mức tiêu thụ năng lượng trong các tòa nhà, trong khi ở Úc, con số nảy tăng lên 70%.
Ở những khu vực đông dân cư như Án Độ, hệ thống điều hòa không khí chiếm 32% năng lượng sử dụng và ở Hồng Kông, hệ thống làm mát và điều hòa không khí chiếm 30% năng lượng tiêu thụ. Ở Trung Đông, hơn 70% năng lượng tiêu thụ trong các tòa nhà được sử dụng cho mục đích làm mát. Với việc mở rộng hệ thống HVAC trong các khu dân cư, tòa nhà thương mại và khu công nghiệp, đã làm tăng mức tiêu thụ năng lượng, đặc biệt là trong những tháng hè cao điểm. Vì vậy, việc tiết kiệm năng lượng cho hệ thống làm mát nói chung và hệ thống HVAC nói riêng là rất quan trọng để mang lại hiệu quả kinh tế.14 Giải pháp tiết kiệm năng lượng Các giải pháp tiết kiệm năng lượng là vẫn đề quan tâm và chú trọng hàng đầu trên thế giới.
Một trong những giải pháp đó được các nhà khoa học quan tâm và nghiên cứu chính là máy lạnh ejector vì chu trình sử dụng ejector có hiệu suất cao hơn chu trình lạnh máy nén thông thường khi tận dụng được áp suất cao tại thiết bị ngưng tụ. Bên cạnh đó chu trình lạnh sử dụng ejector đã chứng minh hiệu qua khi sử dụng môi chất lạnh CO2 môi chất lạnh tự nhiên thân thiện với môi trường. có khả năng tiết kiệm năng lượng hơn. Ngoài ra, sử dụng môi chất lạnh tự nhiên cũng giúp giảm thiểu rủi ro tai nạn trong quá trình vận hành, do các môi chat này có tính chất an toàn hơn so với các môi chất lạnh hóa học.
Song song với đó, các nhà khoa học cũng tập trung nghiên cứu để nâng cao hiệu quả của máy lạnh bằng cách thay đổi các thông số thiết kế đề ejector tối ưu nhất.2 Tổng quan các nghiên cứu về mô phóng ejector làm việc trong máy lạnh ejector trên thế giới Trong những năm trước day, Computational Fluid Dynamics (CFD) [8] da được sử dụng đề nghiên cứu hiệu suất của ejector trong các ứng dụng làm lạnh. Riffat cùng các đồng nghiệp (1996) là một trong những nhà nghiên cứu đầu tiên công bố các kết quả mô phỏng CED ejector làm việc trong các ứng dụng làm lạnh. Ejector được mô phỏng vận hành với ba tác nhân lạnh khác nhau 1a: amoniac, R134a và propane. Các nhà nghiên cứu công bố rằng để dự đoán chỉ tiết trường dòng chảy lưu chất một cách chính xác, ejector cần phải được mô phỏng 3-D (three dimensionally).