CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LỰC CẢN TÀU THỦY VÀ BIỆN PHÁP GIẢM LỰC CẢN TÁC ĐỘNG LÊN THÂN TÀU 1. Lực cản tàu thủy Trong chuyển động của tàu thủy, thân tàu được phân thành hai phần: một phần thân trên tiếp xúc và chuyển động trong môi trường không khí với tác động của gió; phần thân dưới tiếp xúc với nước chịu tác động của nước, dòng chả y và sóng nước. Chuyển động của thân tàu trong môi trường chất lỏng bao gồm cả nước và không khí, khi đó b ề mặt vỏ tàu tiếp xúc với môi trường bao quanh nó, diện tích vỏ tàu tiếp xúc với môi trường nước gọi là diện tích ướt, phần trên mớn nước tiếp xúc với không khí và bề mặt này sẽ chịu tác động của các l ực khí động do môi trường gây ra. Lực cản tác động lên thân tàu là toàn bộ các thành phần lực gây cả n trở chuyển động của tàu trong quá trình di chuyển.
Lự c cản tổng cộng bao gồ m cả phần lực cản gây ra do phần thân tàu dưới nước và lực cản tác động lên phần thân tàu phía trên mặt nư ớc [6, 7, 14, 15]. Trong thực tế việc xác định các thành phần l ực cản tác động lên thân tàu có thể thực hiện được theo các cách khác nhau như: tính toán lý thuyết, thử nghiệm mô hình tàu trong bể thử. Trong đó, các thành phần lực c ản thường được tách ra thành hai phầ n riêng biệt g ồm: phầ n lực cản dưới nước và phần l ực cản khí độ ng do tác động của gió lên phần thân phía trên mặt nướ c của tàu. Thực tế rất khó để xác định hoặc đo lường một cách trực tiếp và chính xác các thành phần lực cản khác nhau tác động lên thân tàu này.
Kiến thức về tính toán lực cản tác động lên tàu thường được thu thập và xây dựng từ thử nghiệm trên các mô hình tàu hoặc thông qua tính toán mô ph ỏng lý thuyết [9, 10, 11, 12, 13]. Việc xác đị nh lực cản c ủa tàu trong môi trường nước thường phân tích trên các thành phần lực cản độc lập, sơ đồ các thành phần lực cản như sau : 10 Bảng 1.1 Các thành phần lực cản tác động lên thân tàu Lực cản toàn bộ RT Lực cản bổ Lực cản vỏ tàu sung RA Lực cản nhớt R V Lực cản sóng RW Lực cản ma sát RF Lực cản hình dáng R P Lực cản sóng RW Lực cản ma sát RF Lực cản dư RR Lực cản ma sát RF: xu ất hiện do ảnh hưởng độ nhớt của chất lỏng gây ma sát vào vỏ tàu. Lực cản ma sát chiếm phầ n lớn (80÷90%) lực cản nhớt và chiế m khoảng 50÷70% tổng lực cản tàu. Nếu hình dáng tàu càng trơn, dễ thoát nước ảnh hưởng của của hình dáng thân tàu càng nh ỏ thì lực cản nhớt hầu như hoàn toàn là lực cản ma sát.
Lực cản ma sát chịu ảnh hưởng độ cong dọc và ngang thân tàu. Lực cản hình dáng RV: sinh ra bởi ảnh hưởng của lớp biên đối với quy luật phân bố áp suất trên thân tàu, nó phụ thuộc vào các dạng tách lớp biên, mà hiện tượng này l ại ảnh hưở ng bởi hình dáng thân tàu. Nếu hình dáng thân tàu càng khó thoát nước thành phần lự c cản này càng lớn. Lực cản sóng R w: Khi tàu chuyển động trên mặt thoáng của chất lỏ ng trọng lực sẽ sinh ra sóng (sóng bản thân), sóng đó sinh ra lực cản sóng.
Lực cản sóng càng lớn khi vận tốc tàu càng lớn. Lực cản toàn bộ của tàu được xác định là tổng của lực cản ma sát RF và lực cản dư Rr và các thành ph ần lực cản bổ sung: R T = RF + RR + RA (1. Hiệu quả kinh tế khai thác tàu và vấn đề giảm lực cản Trong vấn đề khai thác v ận tải nói chung và vận t ải đường thuỷ nói riêng. Hiệu quả kinh tế khai thác tàu được đánh giá đựa trên vấn đề chi phí tiêu hao cho toàn bộ quá trình vận hành và khai thác tàu.
Trong đó, chi phí nhiên li ệu tiêu hao chậy tàu chiếm phần lớn trong tổ ng chi phí khai thác của tàu. Lượng nhiên liệu tiêu 11 hao dầu đốt trên tàu này có th ể tính toán được theo lượng chiếm nướ c và công su ất của từng loại tàu. Có thể lấ y một ví dụ về lượng tiêu hao nhiên liệu của một chiếc phà như sau: Chi phí nhiên liệu cho một chi ếc phà lớn chạ y liên tục 20 giờ/ngày trong một năm có thể lên đến hàng triệu đôla. Ở nước ta, trung bình một chuyến tàu đi biển (khoảng 30 ngày) c ủa một tàu cá cỡ lớn (chiều dài trên 24 mét) chi phí nhiên liệu (dầu đốt) kho ảng t ừ vài chục đến hơn trăm triệu đồng, con s ố trên là khá lớn so với khả năng kinh tế của ngư dân nước ta hiện nay.
Do vậy, gi ảm một lượng nhỏ dù là một vài phần trăm tiêu thụ nhiên liệu trên tàu cũng có ý nghĩa rất l ớn trong vấn đề tiết kiệm chi phí v ận hành khai thác của tàu trong cả năm. Dưới đây là một số yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến mức tiêu thụ trên tàu: - Một số thông số chính của tàu như: hình dạng vỏ tàu, khối lượng tàu, loại động cơ, chân vịt… - Loại tàu sử dụng khai thác trong vùng ho ạt động đặc thù hay thự c hiện các chức năng nhiệm vụ đặc thù khác nhau. - Kết cấu vận hành và khai thác đi kèm theo trên tàu. - Vật liệu, đặc thù của loại tàu.
- Số lượng máy chính. - Tốc độ tàu, dải vậ n tốc khai thác tàu. - Dòng chảy, sóng, gió (hướng và lực tác động). - Điều kiện khai thác t ự nhiên tác động lên thân tàu thay đổi như thế nào.
Trong mỗi trường hợp cụ thể có thể có các yếu tố cần phải kể đến trong tính toán lực cản tác động lên thân tàu nh ất định. - Mớn nước của tàu (phụ thuộc vào lượng hàng hóa). Sự thay đổi chiều chìm của tàu theo điều kiện khai thác sử dụng tàu. Tùy thuộc vào điều kiện luồng lạch trong tuyến vận tải của tàu.
Một số biện pháp k ỹ thuật được đưa ra nhằm đạt được hiệu quả trong việc giảm lượng tiêu thụ nhiên liệu trên tàu như sau : 12 Hình 1.1 Một số biện pháp giảm tiêu hao nhiên liệu cho tàu Nhìn chung hầu h ết các biện pháp đều tập trung vào vi ệc giảm lự c kéo nói cách khác là giảm lực cản của tàu và một số biện pháp khác c ố gắng cải thiện hiệu quả của các thiết bị đẩy tàu và vận hành tàu. Từ đó giúp giảm được lượng nhiên liệu tiêu thụ chạ y tàu cần thiết. Một số biện pháp giảm lực cản tác động lên tàu Khi tàu chạ y, hầu như toàn bộ năng lượng sinh ra từ thiết bị đẩ y tàu tiêu hao cho lực cản tác động lên thân tàu. Các thành ph ần lực cản chủ yếu bao gồ m lực cản nhớt, lự c cản ma sát gi ữa thân tàu và chất lỏng bao quanh, lực cản sóng, l ực cản khí động tác động lên tàu.
Do vậ y, việc nghiên cứ u giảm các thành phần lực cản trên có ý nghĩa quan tr ọng trong việc giảm tiêu hao nhiên liệu từ đó giảm được chi phí vận hành tăng hiệu quả khai thác của tàu, giảm lượng khí thải ra môi trường [9, 10, 13]. 13 Trong lĩnh vực nghiên cứu giảm lực cản tàu thủ y, có thể được phân chia thành các mảng nghiên cứ u lớn gồ m: nghiên cứu giảm lực c ản do nước tác động vào thân tàu gây ra bao gồm việc nghiên cứu giảm lực cản nhớt và lực cản sóng tác động lên tàu. Nghiên cứu giảm lực cản khí động hay lực cản gió tác động lên tàu. Lực cản nhớt đóng vai trò chính trong tổng lự c cản của tàu, ở những vật chìm hoàn toàn hầu như chỉ có lự c cản nhớt.
Vậy việc tìm các biệ n pháp giảm lực cản nhớt là điều quan trọng. Đối với các vật thể dễ thoát nước chú ý đến việc giảm lực cản ma sát vì thành phầ n lực cản hình dáng không lớn. Còn đối với các vật thể khó thoát nước phải giảm lự c cản hình dáng. Để giảm l ực cản nhớt phải giảm độ nhám chung và độ nhám cục bộ, đặc biệt là độ nhám do vi ệc quét sơn, phòng chống rêu hà bám và độ ăn mòn, áp dụng các dạng tàu tránh hi ện tượng tách lớp biên.
Một số biện pháp công nghệ giảm l ực cản đang được nghiên c ứu và áp d ụng hiện nay trên tàu như sau: Làm sạch vỏ tàu giúp giảm lực cản ma sát thân tàu: biện pháp này có th ể áp dụng cho tất cả các lo ại tàu bất kể kiểu loại, kích thước và công d ụng khai thác. Ngay sau khi xu ất xưởng, vỏ tàu, bánh lái, chân vịt và các ph ần khác cần được giữ sạch. Tuy nhiên theo th ời gian, các b ộ phận này sẽ bị bám bẩn do tảo, hàu và các loài khác làm cho tàu khó khăn khi chạy ở tốc độ định trước do gia tăng lực cản ma sát và làm tăng lượng tiêu hao nhiên li ệu. Việc làm sạch định kỳ sẽ cải thiện được tình trạng này, nếu như không thể đưa tàu lên triền đà hoặc vào ụ thường xuyên, việc làm sạch chân v ịt bằng thợ lặn cũng tỏ ra có hiệu quả nhất đị nh.
Làm sạch vỏ tàu để giảm lực cả n ma sát cho tàu 14 Sử dụng vật liệu phủ Polyme: bề mặt vỏ tàu được phun phủ một lớp mỏng Polyme để giảm lực cản của tàu. Trong suốt ba thập kỷ qua rất nhiều bài báo trình bày nghiên cứu v ề sử dụng Polyme trong vi ệc lực cản tàu, các nghiên cứu chỉ ra rằng các phân tử Polime bị kéo căng trong lớp biên rối bởi dòng chả y kết quả làm tăng độ nhớt cục bộ đã làm giả m lực cản chung trên toàn bộ bề mặt vỏ tàu, những nghiên cứu gần đây đã cho thấy các phân t ử Polyme còn có tác động vào sự phân bố xoáy trong dòng ch ảy từ đó làm giảm độ rối trong dòng chảy. Bôi trơn bọt khí: phun bọt khí, tạo khoang khí và tạo lớ p màng khí là ba cách thức của phương pháp bôi trơn bọt khí bằng cách phun khí tạ o lớp phủ không thấm nước. Cả ba phương pháp đều đã chứng mình là có khả năng giả m một lượng lự c cản cho tàu một cách hiệu quả.