MỞ ĐẦU Từ xưa đến nay, thực phẩm luôn là mối quan tâm hàng đầu trong vấn đề duy trì và phát triển xã hội loài người. Cùng với sự phát triển của tiến bộ khoa học và kĩ thuật, ngành khoa học về chế biến thực phẩm cũng phát triển tương xứng, tạo ra sản phẩm đa dạng, đáp ứng nhu cầu ngày càng khắt khe của người tiêu dùng. Phản ứng thủy phân bởi enzym là một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung cấp thực phẩm. Các sản phẩm được tạo ra thông qua con đường này thường có tính chất riêng biệt, đặc trưng và có giá trị dinh dưỡng cao như: sữa chua, phomat, dưa muối, kim chi, đồ uống lên men: rượu vang.
Sau khi qua quá trình phản ứng, sản phẩm được biến đổi mạnh mẽ từ các thành phần bên trong sản phẩm. Có được sự biến đổi có tính đột biến này là do sự tác động đồng thời của rất nhiều yếu tố lên cơ chất với những cơ chế phản ứng đặc biệt phức tạp mà cho đến nay các nhà khoa học vẫn đang tiếp tục tìm hiểu các cơ chế của chúng. Tạo ra được một sản phẩm mong muốn thông qua con đường sử dụng phản ứng thủy phân bằng enzym thường rất phức tạp, mất nhiều thời gian và tốn công do phải thí nghiệm quá nhiều (cho đến lúc tạo ra sản phẩm mong muốn) hoặc thí nghiệm lần lượt thay đổi các yếu tố tác động lên quá trình phản ứng. Các phương pháp này thường không ổn định, dễ gây sai số, không đi đến bản chất của quá trình do không nắm rõ tác động tương hỗ giữa các yếu tố tham gia vào quá trình thủy phân, đồng thời không thấy được xu hướng của quá trình khi biến đổi đồng thời các yếu tố ảnh hưởng.
Với mong muốn tạo ra các sản phẩm như ý thông qua quá trình thủy phân, luận văn này nghiên cứu xây dựng mô hình toán học điều khiển kết thúc quá trình phản ứng thủy phân bằng enzym. Trong các loại enzym đã được biết tới, enzym thủy phân tinh bột đóng vai trò quan trọng và có nhiều ý nghĩa trong việc tạo ra các sản phẩm là nguyên liệu tạo ra rất nhiều sản phẩm thuộc nhiều ngành công nghiệp khác nhau như công nghiệp bánh kẹo, đồ uống, mỹ phẩm… Trong luận văn này lựa chọn enzym thủy phân tinh bột sử dụng bột sắn làm đối tượng nghiên cứu. Luận văn giải quyết những vấn đề sau đây: 1. Lựa chọn phương pháp thuỷ phân bột sắn 2.
Lựa chọn các nguyên liệu và loại enzym phù hợp cho thực hiện phản ứng thuỷ phân. Xây dựng phương pháp thực nghiệm 4. Tiến hành thực nghiệm lấy số liệu 5. Xây dựng đường hồi quy thực nghiệm dựa trên các số liệu có được 6.
Đưa ra phương pháp để lựa chọn được các kết quả đầu ra theo mong mong muốn. Đây được coi là điểm kết thúc quá trình phản ứng. Đưa ra các kết luận về phương pháp và các điểm cần được phát triển, đòi hỏi có thời gian nghiên cứu sâu hơn. Phần II TỔNG QUAN II.
Cấu tạo và thành phần hóa học của sắn Cây sắn – khoai mỳ (Manihot esculenta Crantz) là một trong số những cây có củ mọc ở hơn 80 quốc gia có khí hậu nhiệt đới ẩm trên thế giới. Ở nước ta sắn được phân loại thành: + Sắn đắng: loại này lớp vỏ dày của củ có màu trắng, thân cây thấp, đốt ngắn, cuống lá màu tím, tán lá xum xuê. Loại này cho lượng tinh bột cao, năng suất cao và tương đối ổn định. + Sắn ngọt: chứa ít độc tố, có thể ăn tươi, cuống lá màu xanh, đốt dài, vỏ củ dày màu trắng gọi là sắn xanh.
+ Sắn đỏ: cuống lá màu tím, cây cao, vỏ củ màu đỏ, cuống củ dài đến 10 ÷ 12 cm. Loại này trên 12 tháng mới cho tỷ lệ tinh bột cao. + Sắn chuối: củ mập, cuống củ nhỏ, sắp xếp củ xung quanh như nải chuối, vỏ củ dày màu hồng. + Sắn nghệ: đây là một loại sắn không trồng phổ biến.
Loại này có vỏ dày màu vàng. Trong cây sắn củ sắn là nơi có nhiều tinh bột nhất. Cấu tạo của củ sắn gồm ba phần chính: vỏ, thịt củ và lõi; ngoài ra còn có cuống và rễ củ. Vỏ gồm vỏ gỗ và vỏ cùi.
Vỏ gỗ có màu nâu xẫm, chủ yếu là cellulose. Lớp vỏ này mỏng nhưng rất cứng, có nhiệm vụ bảo vệ phần bên trong không bị tác động bên ngoài, đồng thời hạn chế mất nước của củ. Vỏ gỗ liên kết không bền với vỏ cùi, do đó dễ mất khi thu hoạch và vận chuyển. Tỷ lệ vỏ gỗ phụ thuộc giống sắn độ già và khối lượng củ, thường vào khoảng 1,5 ÷ 2%.
Vỏ cùi dày khoảng 1 ÷ 3 mm và chiếm 8 ÷ 15% khối lượng củ. Vỏ cùi gồm lớp tế bào mô cứng phủ ngoài. Thành phần lớp này cũng chủ yếu là cellulose, hầu như không chứa tinh bột nhưng chứa nhiều dịch bào (mủ sắn). Trong thành phần dịch bào có chứa các polyphenol.
Tiếp theo là lớp tế bào mô mềm, lớp này ngoài dịch còn có chứa khoảng 5% tinh bột. Các polyphenol, enzym và linamarin có tác dụng bảo vệ củ phát triển bình thường trước thu hoạch, nhưng lại gây trở ngại cho bảo quản và chế biến. Tổng lượng các chất polyphenol trong sắn khoảng 0,1 ÷ 0,3%, trong đó đến 85 ÷ 90% tập trung ở vỏ cùi. Sau vỏ cùi là khe mủ - nơi lưu thông giữa vỏ cùi và thịt củ.
Do tác dụng này nên liên kết giữa vỏ cùi với thịt sắn không bền, dễ tách vỏ khỏi thịt sắn. Lớp nối tiếp là tầng sinh gỗ. Tiếp sau tầng sinh gỗ là thịt sắn chứa nhiều tinh bột, protein và các chất dầu. Hàm lượng tinh bột trong thịt sắn phân bố không đồng đều, lớp thịt gần vỏ cùi chứa nhiều tinh bột hơn cả và càng gần lõi củ lượng tinh bột càng giảm.
Các chất polyphenol, độc tố và enzym chứa ở thịt củ tuy không nhiều, chỉ 10 ÷ 15% so với chúng có trong củ nhưng vẫn gây trở ngại khi chế biến như làm biến màu, sắn bị chảy mủ sẽ khó thoát nước khi sấy hoặc phơi khô. Lõi sắn nằm ở trung tâm củ, chạy suốt từ đầu đến cuối củ. Thành phần lõi sắn chủ yếu là cellulose. Lõi có chức năng dẫn nước và các chất dinh dưỡng giữa cây và củ, đồng thời giúp thoát nước khi sấy hoặc phơi khô.
Thành phần hóa học của củ sắn tươi phụ thuộc vào giống loại, thời tiết, điều kiện canh tác và còn phụ thuộc thời gian đào dỡ sắn. Thành phần hóa học của sắn tươi như sau: Bảng II-1 Thành phần hóa học trung bình của sắn tươi Thành phần hóa học Củ sắn vàng Củ sắn trắng Nước (%) 63,18 61,90 Tinh bột (%) 34,20 32,90 Protein (%) 0,61 0,43 Lipit (%) 0,20 0,24 Tro (%) 0,05 0,83 VTM B 1 31 gamma 58 gamma VTM B 2 75 gamma 75 gamma Tinh bột là thành phần chính trong chất khô của sắn, chiếm từ 72 ÷ 84% tùy theo loại sắn. Protein trong sắn rất ít, chúng liên kết với tế bào xơ bọc hạt tinh bột. Protein này hòa tan trong dịch hỗn hợp sau khi được mài xát.
Trong quá trình sản xuất nó không bị biến tính, không ảnh hưởng đến quá trình tách tinh bột vì sự liên kết giữa các tế bào xơ và tinh bột là liên kết không bền vững. Chất khoáng trong sắn gồm có Ca, Mg, K, Na, P. Sắn còn chứa một lượng độc tố có tên là phaseolunatin. Chất này không tan trong rượu, ete, nhưng hòa tan nhiều trong nước.
Dưới tác dụng của HCl hoặc enzym, phaseolunatin bị phân hủy và giải phóng ra HCN. HCN sinh ra tác dụng với sắt tạo thành chất có màu xanh. Vì vậy khi chế biến nếu không tách nhựa sớm thì tinh bột sắn sẽ có màu xanh xám. Tanin và các sắc tố trong sắn cũng làm cho bột sắn có màu xám.
Vì trong quá trình chế biến sắn, tannin dễ bị oxy hóa bởi O 2 không khí và tác dụng với sắt (của thiết bị) tạo thành sắt tannate. Nước trong củ sắn rất cao (> 60%), thúc đẩy hoạt động sinh lý của sắn và sự phát triển vi sinh vật trên sắn, làm sắn dễ hư hỏng. Đồng thời trong sắn còn có nhiều loại enzym hoạt động. Muốn bảo quản sắn lâu ngày, người ta thái sắn thành lát hoặc chế biến thành bột rồi phơi sấy đến độ ẩm thích hợp.
Đặc tính nguyên liệu tinh bột Tinh bột là polysaccharide chủ yếu có trong các hạt hòa thảo, trong củ, thân cây và lá cây. Lượng tinh bột ở hạt ngô và lúa mỳ vào khoảng 60 ÷ 75%. Trong hạt lúa có thể đạt từ 75 ÷ 80%. Tinh bột cũng có nhiều ở các loại củ như khoai tây, sắn, củ mài.
Một lượng tinh bột đáng kể cũng thấy ở các loại quả và cả ở nhiều loại rau. Tinh bột có vai trò dinh dưỡng đặc biệt lớn vì trong quá trình tiêu hóa chúng bị thủy phân thành đường glucose là chất tạo nên nguồn calo chính của thực phẩm cho con người [16]. Trong hạt, tinh bột tồn tại dưới dạng các hạt có kích thước biến đổi từ 0,02 ÷ 0,12 mm. Hạt tinh bột của các loại hạt khác nhau có hình dáng và kích thước khác nhau.
Hạt tinh bột khoai tây có kích thước lớn hơn cả, còn hạt tinh bột của lúa có kích thước nhỏ hơn. Hạt tinh bột lúa mỳ, lúa mạch có cấu tạo đơn giản còn hạt tinh bột ngô lúa có cấu tạo phức tạp. Khi tác dụng với iodine tinh bột cho màu rất đặc trưng. Phản ứng này dùng để định tính tinh bột[3,17].
Cấu tạo của tinh bột Tinh bột không phải là một chất riêng biệt. Nó bao gồm hai cấu tử là amylose (AM) và amylopectin (AP). AM thường chiếm 12 ÷ 25%, còn AP chiếm 75 ÷ 85% phân tử tinh bột [16]. AM và AP đều là α-polysaccharide và đều do các gốc α-D-glucose cấu tạo nên.
AM có trọng lượng phân tử từ 3,10 5 ÷ 1,10 6 được cấu tạo từ 200 ÷ 2000 gốc D-glucose. Các gốc glucose nối với nhau bằng liên kết α-1,4 glucoside và tạo thành một mạch xoắn dài. Cấu trúc xoắn được giữ vững nhờ liên kết hydro được tạo thành giữa các nhóm OH tự do. Chiều dài cực đại của phân tử AM đạt tới 7000 Å.
Mỗi vòng xoắn của của mạch AM gồm 3 gốc glucose và có chiều dài mạch là 10,6 Å. Trong dung dịch mạch xoắn của AM co lại, vòng xoắn lớn lên và gồm 6 gốc glucose [17]. Hình II-1 Cấu trúc của Amylose AP được cấu tạo từ 600 ÷ 37000 gốc D-glucose. Chúng gắn với nhau bằng các liên kết α-1,4 và α-1,6 glucoside.
Chiều dài trung bình của mạch có nhánh tự do gồm 21 ÷ 27 gốc glucose (có trường hợp chỉ 15 ÷ 18 gốc).