Chương 1: TỔNG QUAN VỀ MẠNG VIỄN THÔNG HÀNG KHÔNG 1. Hệ thống mạng viễn thông hàng không - ATN 1. Tổng quan về mạng ATN 1. Quá trình hình thành khái niệm mạng ATN Quản lý không lưu (Air Traffic Management - ATM) là việc quản lý các vùng trời và hoạt động một cách an toàn, hiệu quả và điều hòa thông qua việc phối hợp cung cấp các phương tiện và dịch vụ với các bên liên quan có các chức năng dựa trên mặt đất và trên tàu bay [4].
Để đảm bảo thực hiện ATM, có 03 dịch vụ đóng vai trò rất quan trọng đó là thông tin, dẫn đường, giám sát hàng không (Communication, Navigation, Surveillance - CNS), chức năng của các dịch vụ này như sau: - Dịch vụ thông tin hàng không gồm 2 loại đó là thông tin lưu động hàng không và thông tin cố định hàng không. Dịch vụ này cung cấp các thông tin liên lạc giữa người lái và kiểm soát viên không lưu và giữa những đơn vị liên quan đến các hoạt động điều hành bay, sân bay, khai thác tàu bay và nhà chức trách hàng không. - Dịch vụ dẫn đường hàng không bao gồm các hệ thống phụ trợ dẫn đường vô tuyến phát ra các tín hiệu tạo các mốc và chỉ hướng cũng như cự ly của tàu bay so với đài dẫn đường trong quá trình bay đường dài, tiếp cận và hạ cánh. - Dịch vụ giám sát được thực hiện thông qua các hệ thống radar giám sát nhằm giúp cho kiểm soát viên không lưu có thể nhìn thấy các vị trí của các tàu bay trên màn hình radar tại bàn kiểm soát không lưu.
Tuy nhiên, hạ tầng kỹ thuật phục vụ quản lý không lưu hiện nay đã bộc lộ nhiều mặt hạn chế do việc triển khai các hệ thống cung cấp dịch vụ này sử dụng trên những hệ thống đường truyền riêng rẽ, chưa phối hợp với nhau nhau tạo thành một thể thống nhất; việc quản lý, giám sát, xây dựng chiến lược bảo mật tổng thể cho toàn hệ thống gặp nhiều khó khăn. Khi lưu lượng bay đạt tới một ngưỡng nào đó, những hạn chế này sẽ là rào cản khiến hệ thống sẽ không đủ an toàn và hiệu quả để đáp ứng các yêu cầu của quản lý không lưu [4]. Luan van 3 Năm 1983, ICAO đã thành lập Ủy ban đặc biệt về các hệ thống dẫn đường hàng không trong tương lai (Special Committee on Future Air Navigation Systems (FANS)) với mục đích nghiên cứu, xác định và đánh giá các công nghệ mới trong lĩnh vực hàng không (dẫn đường hàng không, thông tin, công nghệ vệ tinh…) và để đưa ra các khuyến nghị về sự phát triển của ngành hàng không dân dụng. Các kết quả nghiên cứu lớn của Ủy ban FANS tập trung vào các hệ thống CNS cho ATM, trong đó tập trung nghiên cứu mô hình CNS/ATM mới ứng dụng các công nghệ viễn thông hiện đại và nổi bật là liên kết dữ liệu và vệ tinh.
Tại Hội nghị dẫn đường hàng không lần thứ 10 năm 1991, ICAO đã đưa ra khái niệm về hệ thống CNS/ATM toàn cầu. Khái niệm này tiếp tục được hoàn thiện và chính thức được áp dụng vào năm 1993. Theo định nghĩa của ICAO, CNS/ATM là các hệ thống thông tin, dẫn đường, giám sát, sử dụng các công nghệ số, bao gồm các hệ thống vệ tinh cùng với nhiều mức tự động khác nhau, áp dụng để hỗ trợ hệ thống quản lý không lưu hợp nhất trên toàn cầu. Cùng với sự ra đời của CNS/ATM, các khái niệm về thành phần của hệ thống CNS/ATM cũng dần được hình thành trong đó có mạng ATN.
Có thể nói, mạng ATN là thành phần quan trọng, không thể tách rời của CNS/ATN. Vệ tinh dẫn đường Vệ tinh thông tin Giám sát Mạng viễn thông Hình 1.1: Khái niệm CNS/ATM Luan van 4 1. Định nghĩa về mạng ATN Theo định nghĩa của Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế ICAO, mạng ATN là một kiến trúc mạng kết nối toàn cầu dành riêng cho ngành hàng không. Mạng ATN cho phép trao đổi dữ liệu kỹ thuật số địa - địa, không - địa và các mạng con dữ liệu hàng không để đảm bảo cho sự an toàn của dẫn đường hàng không và duy trì liên tục, hiệu quả, khai thác kinh tế cho các dịch vụ không lưu [5].
Lợi ích của mạng ATN Mạng ATN được coi như mạng Internet của ngành hàng không, cho phép kết nối giữa các hệ thống dữ liệu khác nhau, các khu vực, quốc gia trên một nền tảng cơ sở hạ tầng kết nối thống nhất, có tính mở, tính an toàn, dự phòng, bảo mật và đáp ứng đầy đủ yêu cầu các dịch vụ. Trước đây, mỗi khi triển khai một dịch vụ, một ứng dụng thì cần phải tạo một kết nối mới, kênh truyền mới, ATN được tạo ra để loại bỏ sự cần thiết phải có kênh truyền độc lập đó. Với ATN, sẽ có một kết nối vật lý dùng chung thay vì các kết nối riêng rẽ được tạo ra mỗi khi cần. ATN cũng sẽ cung cấp một mạng chuẩn hoá cho thông tin liên lạc giữa các hãng hàng không và các cơ sở ATS.
ATN cung cấp cơ sở hạ tầng truyền số liệu cần cho việc thực hiện tự động hoá ATM. So với các hệ thống thông tin thoại truyền thống, ATN và các ứng dụng ATM có các lợi ích sau: - Thông tin dưới dạng dữ liệu rõ ràng và đầy đủ hơn dẫn tới giảm bớt lỗi nói và nghe hiểu. - Các kênh thông tin được sử dụng một cách hiệu quả hơn làm giảm số lượng kênh vô tuyến đất đối không và giảm các kênh riêng trên mặt đất. - Có khả năng kết nối hai đầu cuối bất kỳ (trên máy bay hoặc trên mặt đất) trong mạng thông tin dữ liệu toàn cầu.
- Giảm bớt công việc cho phi công, kiểm soát viên và các bộ phận liên quan trong ATM do đã có các bản tin được định dạng sẵn và được lưu trữ. Luan van 5 Mạng ATN Nhà cung cấp dịch vụ Trung tâm ATC Trung tâm AOC thông tin hành khách Hình 1.2: Tổng quan mạng ATN 1. Đặc điểm, cấu trúc, mô hình của mạng ATN 1. Quá trình nghiên cứu, lựa chọn tiêu chuẩn cho mạng ATN Ban đầu, ICAO đã lựa chọn mô hình OSI do ISO và IUT-T khởi xướng để làm các tiêu chuẩn tham chiếu cho tất cả các kết nối dữ liệu liên quan tới quản lý không lưu (kết nối địa-địa, không-địa).
Kết quả là, ICAO đã phát triển tiêu chuẩn mạng ATN để ứng dụng trong hàng không dân dụng theo mô hình OSI hay còn gọi là ATN/OSI. Các tiêu chuẩn này đã được công bố vào thập niên 90. Tiếp theo đó, ICAO đã xem xét khả năng sử dụng chồng giao thức IP để làm giải pháp thay thế để đáp ứng được với những yêu cầu ngày càng phát triển của hàng không dân dụng. Sự xem xét này được đưa ra kể từ khi IP đang dần dần trở thành giải pháp tiêu chuẩn toàn cầu cho toàn bộ mạng viễn thông kể từ năm 2000.
Sau quá trình nghiên cứu, ICAO đã tiếp tục công bố các tiêu chuẩn mạng ATN dựa theo chồng giao thức IP (Internet Protocol Suite) hay còn gọi là ATN/IPS. Hiện tại, việc áp dụng ATN/OSI hay ATN/IPS còn tùy thuộc vào điều kiện, cơ sở hạ tầng và chiến lược của từng khu vực. Tuy nhiên, theo xu hướng hiện tại, Luan van 6 ATN/IPS sẽ dành cho các mạng kết nối địa - địa trong khi đó ATN/OSI sẽ tiếp tục hỗ trợ cho mạng kết nối không địa, đặc biệt là cho VDL Mode 2. Đồng thời, việc nghiên cứu các tiêu chuẩn ATN/OSI cho mạng kết nối không - địa đang được tiếp tục thực hiện và sẽ sớm được đưa vào áp dụng [5].
Đặc điểm, cấu trúc, mô hình của mạng ATN/OSI Hệ thống đầu cuối Hệ thống đầu cuối ATN cuối - cuối Thực thể ứng Thực thể ứng dụng Dịch vụ kết nối ATN dụng cuối - cuối Dịch vụ liên kết Dịch vụ liên kết tầng trên Mạng Internet ATN cuối - cuối tầng trên Dịch vụ viễn Hệ thống trung Hệ thống trung Dịch vụ viễn thông Internet gian (IS) gian (IS) thông Internet Hình 1.3: Cấu trúc mạng ATN/OSI theo ICAO Hệ thống cuối (End system): Có khả năng kết nối với các hệ thống cuối khác bằng cách trực tiếp hoặc gián tiếp, để cung cấp dịch vụ kết nối cuối - cuối cho các ứng dụng không - địa, địa - địa hoặc cả hai; tuân thủ theo kiến trúc 7 tầng của mô hình OSI; hỗ trợ một hoặc nhiều ứng dụng ATN và hỗ trợ kết nối qua mạng ATN bằng cách cung cấp các chế độ dịch vụ truyền tải hướng kết nối hoặc phi kết nối hoặc sử dụng cả hai. Các thực thể ứng dụng (Application Entity): là một thành phần trong quá trình xử lý của ứng dụng liên quan đến việc kết nối trong môi trường OSI, một ứng dụng có thể được hỗ trợ bởi nhiều thực thể ứng dụng (tuân thủ theo ISO/IEC 9545). Dịch vụ truyền thông tầng trên (Upper layer communications service): tương ứng với tầng phiên (tầng 5), tầng trình bày (tầng 6) và một phần của tầng ứng dụng (tầng 7) trong mô hình OSI. Nó cho phép các ứng dụng ATN xác định kết nối ngang Luan van 7 hàng bằng cách xác định giao thức cần thiết để thiết lập liên kết giữa các ứng dụng, mã hóa và truyền dữ liệu và để giải phóng các liên kết theo thứ tự hay đột ngột.
Dịch vụ truyền thông Internet (Internet communications service) được tạo ra từ kiến trúc định tuyến Internet bao gồm nhiều thành phần, chức năng như miền định tuyến, miền quản trị… Dịch vụ truyền thông Internet dựa trên giao thức phi kết nối ISO (CLNP), giao thức truyền hướng kết nối ISO (Class4) và giao thức trao đổi thông tin định tuyến liên miền (inter-domain routing information exchange protocol). Nó hỗ trợ cho nhiều kiểu loại mạng con địa - địa và không - địa của mạng ATN, đảm bảo khả năng hoạt động liên kết của hệ thống trung gian (Intermediate systems) và các mạng con ATN tích hợp. Nó cũng cung cấp các cơ chế ưu tiên, định tuyến dựa trên chính sách, trao đổi thông tin định tuyến và kỹ thuật nén cho phép sử dụng hiệu quả băng thông có sẵn. Dịch vụ truyền thông Internet có chức năng tương ứng với 04 tầng dưới của mô hình OSI bao gồm tầng vận chuyển (tầng 4), tầng mạng (tầng 3), tầng liên kết dữ liệu (tầng 2), tầng vật lý (tầng 1).
Hệ thống trung gian (Intermediate system): là các bộ định tuyến trong mạng ATN và được phân loại như sau: Bảng 1.