Chương I. Lý thuyết về cấu tạo hoạt động của vít-me, đai ốc 1. Cấu tạo Bộ truyền vítme – đai ốc có 2 bộ phận chính: Vít số 1 quay với số vòng quay n1, công suất truyền động P1, mo men xoắn trên trục T1. Vít có ren ngoài tương tự như bu lông.
Trong trường hợp này vít là khâu dẫn. Đai ốc số 2, chuyển động tịnh tiến với vận tốc v2, công suất trên đai ốc là P2. Đai ốc có ren trong giống như đai ốc trong mối ghép ren. Trường hợp này đai ốc là khâu bị dẫn.
Trong những bộ truyền khác, có thể đai ốc là khâu dẫn, đai ốc quay vời số vòng quay n1 còn vít là khâu bị dẫn, chuyển động tịnh tiến với vận tốc v2.1: Bộ truyền vít-me, đai ốc Thực tế thì trục vít( thường là trục dẫn động) được làm bằng thép và liền với trục vì chịu tải lớn, còn bánh vít, đai ốc ( thường là bánh bị dẫn động, nhận chuyển động từ trục vít) cho nên bề mặt làm việc của bánh vít, đai ốc phải làm bằng vật liệu kém bền hơn, và hợp kim màu, cụ thể là hợp kim đồng được sử dụng chủ yếu vì đồng có rất nhiều tính năng phù hợp với điều kiện làm việc. Hoạt động Ren của vít và ren của đai ốc ăn khớp với nhau. Nhưng trong quá trình truyền động có trượt rất lớn trên mặt ren, hiệu suất truyền động không cao. Trong thực tế thường dùng các loại truyền động sau: Vít quay, đai ốc tịnh tiến.
Ví dụ như chuyển động của bàn xe dao trong máy tiện. Vít vừa quay vừa tịnh tiến, còn đai ốc đứng yên. Ví dụ như chuyển động của vít trong kích vít 3 Luan van Đai ốc vừa quay vừa tịnh tiến, con vít đứng yên. Ví dụ như chuyển động của đai ốc trong cơ cấu kép chặt của đồ gá.2: Kích vít Hình 1.3: Cơ cấu kẹp chặt 4 Luan van 2.
Lý thuyết về cấu tạo, hoạt động của bộ truyền xích 2. Cấu tạo Đĩa xích dẫn Đĩa xích bị dẫn Xích: chuỗi các mắt xích liên kết bằng bản lề (tạo “độ mềm”) thành một vòng khép kín. Bộ phận căng xích, bộ phận bôi trơn, che kín. Vật liệu má xích thường được làm bằng thép cán nguội, thép cacbon chât lượng tốt và thép hợp kim tôi đạt được độ cứng 40-50 HRC.
Bản lề ( chốt, ống, con lăn) được chế tạo bằng thép ít cacbon sau đó thấm cacbon và tôi đạt độ cứng 50-60 HRC. Vật liệu làm đĩa xích thường là thép cacbon hay thép hợp kim, sau đó gia công tôi đạt độ rắn 50-60 HRC. Theo công dụng chung, xích chia làm ba loại: Xích tải Xích kéo Xích truyền động 2. Hoạt động Nhờ sự ăn khớp của các mắt xích và răng của đĩa xích mà chuyển động và cơ năng được truyền đi.
Xích truyền động có 3 loại là : xích ống con lăn, xích ống, xích răng. Phổ biến, thông dụng là xích ống con lăn (thông số hình học cơ bản là bước xích p).4: Xích ống con lăn 5 Luan van Ưu điểm: Không có hiện tượng trượt như bộ truyền đai, có thể làm việc khi có quá tải đột ngột, hiệu suất cao. Không đòi hỏi phải căng xích, nên lực tác dụng lên trục và ổ nhỏ hơn Kích thước bộ truyền nhỏ hơn bộ truyền đai nếu cùng công suất Góc ôm không có ý nghĩa như bộ truyền đai nên có thể truyền cho nhiều bánh xích bị dẫn Nhược điểm: Bản lề xích bị mòn nên gây tải trọng động, ồn. Có tỉ số truyền tức thời thay đổi, vận tốc tức thời của xích và bánh bị dẫn thay đổi.
Phải bôi trơn thường xuyên và phải có bánh điều chỉnh xích. Mau bị mòn trong môi trường có nhiều bụi hoặc bôi trơn không tốt. Phạm vi sử dụng: Truyền công suất và chuyển động giữa trục có khoảng cách xa, cho nhiều trục đồng thời trong trường hợp n < 500v/p Công suất truyền thông thường < 100 kW Tỉ số truyền < 6, hiệu suất 0,95. Lý thuyết về động cơ điện 3.
Cấu tạo Động cơ một chiều Biến Trở Hộp giảm tốc Mạch điều khiển Vỏ Dây tín hiệu 3. Nguyên lí hoạt động Sơ lược về nguyên lí hoạt động của các loại động cơ nói chung: Động cơ điện một chiều: 6 Luan van Nếu một dây dẫn mang điện được đặt vào trong một từ trường sẽ tạo ra một lực giúp dây dẫn chuyển động. Phương của lực là 90 độ so với chiều dòng điện và cũng là 90 độ so với các đường lực từ trường. Khi dòng điện chạy trong vòng dây, một trường điện từ được tạo ra xung quanh vòng dây.
Trường điện từ này tương tác với từ trường tạo ra bởi nam châm vĩnh cửu. Lực tương tác tạo ra mô men và làm quay vòng dây.Trong trường hợp này, một vòng dây (Rotor) tự do quay tròn trong từ trường tạo bởi hai nam châm vĩnh cửu đặt cố định. Mặc dù vậy, rotor sẽ dừng quay khi các lực nằm ở hai hướng ngược nhau và cùng theo hướng với trục quay, bởi vì tại thời điểm đó, mô men là rất nhỏ. Để rotor tiếp tục chuyển động, chúng ta phải đảo chiều dòng điện chạy trong vòng dây, theo đó sẽ đảo chiều trường điện từ và hướng của lực.
Một vòng kim loại gồm 2 nửa hay còn gọi là cổ góp giúp thực hiện chức năng này. Nếu chúng ta đảo chiều dòng điện đúng thời điểm, rotor sẽ tiếp tục quay khi dòng điện chạy trong rotor. Dựa vào nguyên tắc cơ bản này, động cơ điện một chiều hiện đại sử dụng nam châm vĩnh cửu tĩnh có từ trường mạnh bao quanh dây cuốn rotor (còn được gọi là phần ứng). Càng nhiều vòng dây, càng nhiều dòng điện chạy trong phần ứng tạo thành từ trường mạnh hơn.
Từ trường càng mạnh, lực quay càng khỏe và rotor sẽ quay càng nhanh. Động cơ điện một chiều hiện đại có khả năng tạo mô men quay lớn tại tốc độ quay nhỏ và có khả năng điều chỉnh hướng chuyển động. Động cơ điện xoay chiều: Động cơ điện xoay chiều hiện đại (còn được gọi là động cơ điện cảm ứng) gồm có rotor ở bên trong và stator bao bên ngoài. Khi cuộn dây stator được cấp nguồn điện xoay chiều sẽ sản sinh ra một từ trường quay.
Stator đồng thời sẽ kích ứng một dòng điện trong cuộn dây rotor mà không cần bất kỳ kết nối điện nào! Nhờ thiết kế rotor và stator, liên kết giữa 2 thành phần này có thể rất khỏe và khi đó động cơ này được gọi là động cơ đồng bộ. Động cơ đồng bộ được sử dụng trong các ứng dụng đòi hỏi tốc độ động cơ cao và ổn định. Động cơ điện một chiều không chổi: Động cơ điện một chiều không chổi than có cấu trúc tương tự động cơ điện xoay chiều đồng bộ nhưng có các điểm khác biệt quan trọng. Động cơ một chiều không chổi than (không có cổ góp cơ khí) sử dụng cuộn dây stator nhưng rotor là nam châm vĩnh cửu.
Để 7 Luan van tạo từ trường quay, stator được cấp năng lượng theo một trình tự cụ thể với điện năng thay đổi theo tần số, pha, phân cực và dòng điện để quay rotor theo yêu cầu của ứng dụng. Điều khiển điện năng trong thiết kế động cơ điện một chiều không chổi than rất phức tạp và được điều khiển bởi vi xử lý kết hợp với các linh kiện điện tử khác. Thiết bị dùng để điều khiển điện năng này được gọi là bộ điều khiển động cơ. Động cơ bước: Động cơ bước là một dạng của động cơ một chiều không chổi than.
Trong động cơ bước, rotor và stator được thiết kế sao cho các bước quay rất nhỏ và liên kết từ trường giữa chúng là rất lớn ở mỗi bước quay. Thiết kế của stator và rotor giúp tập trung từ trường và khóa rotor chính xác theo một góc quay xác định. Nhờ có vi xử lý điều khiển điện năng đến cuộn dây stators, chúng ta có thể điều chỉnh góc quay, chiều quay và tốc độ quay của động cơ bước. Lý thuyết về hộp giảm tốc 4.
Khái niệm, cấu tạo Hộp giảm tốc là một thiết bị dùng để giảm tốc độ các vòng quay. Đây là thiết bị trung gian giữa động cơ và các bộ phận khác của máy trong dây chuyền sản xuất với chức năng điều chỉnh tốc độ của động cơ điện cho phù hợp với yêu cầu. Động cơ điện thường có tốc độ quay vô cùng lớn, nhưng khi ứng dụng vào sản xuất trên thực tế thì nhiều trường hợp cần tốc độ quay nhỏ hơn nhiều. Lúc này việc chế tạo động cơ có công suất nhỏ cần chi phí rất cao, trong khi động cơ có công suất lớn lại nhỏ gọn, thiết kế đơn giản, chi phí thấp.
Chính vì vậy, để làm giảm tốc độ động cơ sao cho phù hợp với yêu cầu của các máy móc thiết bị điện thì người ta đã tạo ra hộp giảm tốc. Hơn nữa, khi dùng hộp giải tốc tải trọng của động cơ cũng được tăng lên rất nhiều. Phần bên trong, cấu tạo hộp giảm tốc cũng khá đơn giản, chúng gồm các bánh răng thẳng và nghiêng ăn khớp với nhau theo một tỷ số truyền nhất định. Khi có nguồn điện cấp vào, thiết bị này có thể tạo nên số vòng quay phù hợp với yêu cầu người sử dụng.
Tùy vào điều kiện làm việc và tính toán thì người ta sẽ thiết kế 1 hộp giảm tốc phù hợp với công việc. 8 Luan van Hộp số giảm tốc dùng để giảm tốc độ vòng quay từ động cơ. Khi lắp ráp, một đầu hộp số giảm tốc được nối với động cơ (xích, đai, hoặc nối cứng), đầu còn lại của hộp số giảm tốc được nối vối tải. Nguyên lí hoạt động Thông thường hộp số giảm tốc là 1 hệ bánh răng ăn khớp với nhau theo đúng tỷ số truyền và momen quay đã thiết kế để lấy ra số vòng quay mà người sử dụng cần.
Cũng có một số hộp giảm tốc không sài hệ bánh răng thường mà sài hệ bánh răng vi sai, hoặc hệ bánh răng hành tinh. Với hộp số giảm tốc loại này thì kích thước sẽ nhỏ, gọn, chịu lưc làm việc lớn.5: Sơ đồ hoạt động Tùy vào điều kiện làm việc và tính toán thì người ta sẽ thiết kế 1 hộp giảm tốc phù hợp với công việc. Khi người ta cần 1 số vòng quay trong 1 phút mà không có động cơ nào đáp ứng được thì người ta sẽ dùng đến hộp giảm tốc.