CHƯƠNG 1.1 SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NGHỊCH LƯU NỐI LƯỚI Các hệ thống sử dụng năng lượng tái tạo ngày càng phổ biến [1] thông qua các bộ nghịch lưu nối lưới. Có nhiều phương pháp điều khiển được ứng dụng trong các bộ nghịch lưu. Tuy nhiên, có thể chia thành 5 nhóm điều khiển cơ bản bao gồm: điều khiển dự báo, điều khiển bão hòa, điều khiển tuyến tính, điều khiển trượt, và điều khiển thông minh (neural, fuzzy. Hầu hết các phương pháp điều khiển này đã được ứng dụng cho điều khiển nghịch lưu động cơ.
Trong điều khiển nghịch lưu nối lưới, các phương pháp điều khiển tuyến tính như điều khiển PI và PR được sử dụng khá phổ biến vì tính đơn giản của chúng. Tuy nhiên, khi nhu cầu điều khiển công suất thay đổi trong quá trình vận hành, các phương pháp điều khiển này bộc lộ nhược điểm đáp ứng chậm của chúng. Nếu tăng đáp ứng động sẽ làm tăng độ vọt lố nên có khả năng bị quá dòng và làm hư hỏng linh kiện bán dẫn công suất. Trong khi đó, phương pháp điều khiển bão hòa [2]–[7] có thể cho đáp ứng nhanh và độ vọt lố thấp.
Mặc dù vậy, phương pháp điều khiển bão hòa cũng có nhược điểm là khó khăn trong việc kiểm soát tần số chuyển mạch do có độ rộng băng sai số cố định. Điều này làm cho số lần chuyển mạch trong một chu kỳ cơ bản tăng cao. Nguyên nhân chủ yếu do sử dụng ba bộ chuyển mạch bão hòa độc lập cho 3 pha nên không có được trạng thái chuyển mạch tối ưu. Khi tăng độ rộng băng sẽ làm giảm số lần chuyển mạch, nhưng cũng làm tăng sóng hài dòng điện ngõ ra của nghịch lưu và ngược lại.
Do đó, phương pháp bão hòa chủ yếu dùng cho điều khiển nghịch lưu động cơ. Thêm vào đó, nền tảng điều khiển số dựa trên các kit DSP hiện nay trở nên rất phổ biến và phù hợp cho các phương pháp điều khiển rời rạc. Trong khi đó, phương pháp điều khiển dự báo thường được áp dụng cho các bộ nghịch lưu điều khiển động cơ điện vì mang lại hiệu quả cao. Tuy nhiên, việc điều khiển các bộ nghịch lưu nối lưới bán dẫn công suất sử dụng phương pháp điều khiển dự báo [8] chưa được ứng dụng nhiều do sự phụ thuộc vào tham số hệ thống nguồn lưới nên hiệu quả chưa cao [9]– [11].
1 Luan van T2020-21TĐ Việc nghiên cứu điều khiển nghịch lưu nối lưới ứng dụng phương pháp dự báo dựa vào mô hình vẫn còn có những khó khăn nên cần có các nghiên cứu sâu hơn. Hiện nay trong nước chỉ có vài nghiên cứu liên quan đến việc điều khiển nhiệt độ sử dụng phương pháp dự báo [12], [13], hầu như chưa có các nghiên cứu liên quan đến điều khiển dự báo cho nghịch lưu nối lưới.2 CÁC TIÊU CHUẨN NỐI LƯỚI Đa số các nguồn điện phân tán DG (Distributed Generation) sử dụng năng lượng tái tạo đều có hệ thống nghịch lưu để nối lưới. Tuy nhiên, các bộ nghịch lưu nối lưới này lại là một trong những thiết bị phát sóng hài đáng kể lên lưới điện và ảnh hưởng đến sự ổn định của hệ thống điện [14]. Do đó, chúng có tác động tiêu cực đến chất lượng điện năng của hệ thống điện.
Hơn nữa, quan hệ công suất như hình 1.1 cho thấy việc xuất hiện sóng hài cũng làm giảm khả năng phát điện của các nguồn điện này. Quan hệ công suất khi có sóng hài [15] 2 Luan van T2020-21TĐ Vì vậy, để đảm bảo an toàn trong vận hành và truyền tải điện năng, các tiêu chuẩn chất lượng điện năng đã được các cơ quan vận hành hệ thống điện ban hành như: IEEE-929 (2000) [16]; IEEE-1547 (2009) [17]-[14] của Mỹ; tiêu chuẩn IEC 62116 (2005) về cô lập DG; IEC 61727 (2007); các tiêu chuẩn EN 50160 ở châu Âu; VDE 0126 (2006) của Đức; thông tư 30 BCT (2019) của Bộ Công thương Việt Nam, trong đó, các tiêu chuẩn giới hạn sóng hài [15] và phát công suất phản kháng để hỗ trợ hệ thống điện khi xảy ra các sự cố điện áp cũng được yêu cầu đối với thiết bị nối lưới. Trong khi đó, các phương pháp điều khiển thông thường có thể gây ra quá dòng thiết bị do có độ vọt lố cao nhằm đáp ứng nhanh. Như vậy, để thỏa mãn các tiêu chuẩn nối lưới ngày càng nghiêm ngặt và góp phần nâng cao chất lượng điện năng của hệ thống điện, cần phải có các nghiên cứu sâu hơn để đảm bảo vận hành an toàn và bền bỉ cho các bộ nghịch lưu nối lưới.3 CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 1.1 Bộ điều khiển dòng điện Một hệ thống nghịch lưu nối lưới thông thường có cấu trúc như hình 1.
Vg Lg Li Vi IGBT + Inveter - Renewable energy Ia Ib Ic source Grid Anti- Va Vb vc Cf abc →dq islanding control PLL SVPWM Idc Id Iq V* dq → Vdc Vmax f Iq MPPT Q Iq_ref =0 PI V*q Vmax - profile + controller Vmppt + Id - Id_ref - PI V*d DC + controller controller Hình 1. Cấu trúc nghịch lưu nối lưới điều khiển dòng điện PI 3 Luan van T2020-21TĐ Với một lượng công suất tác dụng và phản kháng cho trước theo yêu cầu hệ thống, tương ứng sẽ tính được một lượng dòng điện đặt Id_ref và Iq_ref. Khi sử dụng bộ điều khiển dòng điện PI, dòng điện trong hệ tọa độ đồng bộ dq sẽ được sử dụng để điều khiển dòng. Thông qua bộ điều khiển PI, điện áp trong hệ tọa độ dq được xác định và chuyển sang hệ tọa độ tĩnh và đưa vào bộ điều chế vector không gian SVPWM để phát xung chuyển mạch cho các IGBT.
Mặc dù bộ điều khiển PI dễ sử dụng, nhưng sai số xác lập và độ vọt lố lớn làm cho hiệu quả điều khiển không cao. Để loại bỏ sai số xác lập và tăng đáp ứng động, các bộ điều khiển dòng điện thường sử dụng loại điều khiển PR (Proportional resonance) vì điều khiển đơn giản [18] như hình 1. Vg Lg Li Vi IGBT + Inveter - Renewable energy Ia Ib Ic source Grid Anti- Va Vb vc Cf abc → islanding control PLL SVPWM Idc I I V*abc → abc Vdc I MPPT Vmax f I* - PR V* Vmax Q Iq_ref =0 + controller Vmppt profile dq + I f - Id_ref I* - PR V* DC + controller controller Hình 1. Cấu trúc nghịch lưu nối lưới điều khiển dòng điện PR Tuy nhiên, độ vọt lố lớn của bộ điều khiển PR cũng làm cho dòng điện quá độ tăng cao và gây quá dòng cho linh kiện chuyển mạch.2 Bộ điều khiển dòng điện bão hòa HCC Để tăng đáp ứng độ và giảm độ vọt lố, phương pháp điều khiển bão hòa HCC (Hys- teresis current control) thường được sử dụng [6], [19] như hình 1.
trong hệ thống 3 pha cần đến 3 bộ điều khiển HCC hoạt động độc lập nhau. Các bộ điều khiển này dựa vào sai số giữa giá trị đặt (reference values) và giá trị hiện thời đo được để chuyển mạch. Muốn cho sai số xác lập càng nhỏ thì khoảng sai số HB (Hysteresis band) phải càng nhỏ. Khi đó, tần số chuyển mạch càng cao và ngược lại.
Tuy nhiên, hầu hết các phương pháp này cho thấy khó khăn trong việc kiểm soát tần số chuyển mạch khi cố định độ rộng băng HB như hình 1. Vg Lg Li Vi IGBT + Inveter Renewable - energy source Grid Anti- Va Vb vc Cf Ia Ib Ic islanding control PLL Ia Vmax Ia-ref - HC Q Iq_ref =0 + controller Vmax profile dq Ib Ib-ref - HC + controller Ic Id_ref abc Ic-ref - HC + controller Hình 1. Cấu trúc nghịch lưu nối lưới sử dụng bộ điều khiển bão hòa 5 Luan van T2020-21TĐ I-ref HB I-inductor PWM t Hình 1. Nguyên lý phát xung kích của bộ điều khiển bão hòa HC Việc kiểm soát tần số chuyển mạch có thể cải thiện khi sử dụng phương pháp điều chỉnh độ rộng băng.
Tuy nhiên, khi đó sẽ làm tăng độ phức tạp trong quá trình điều khiển và dễ xảy ra hiện tượng quá điều chế với vùng biên độ cao. Điều này sẽ làm tăng sóng hài ở ngõ ra của nghịch lưu. Thêm vào đó, việc sử dụng 3 bộ điều khiển độc lập cho cả 3 pha làm cho phương pháp điều khiển bão hòa khó có được trạng thái chuyển mạch tốt nhất. Do đó, trong thực tế, phương pháp này thường chỉ sử dụng cho nghịch lưu điều khiển động cơ.
Trong lĩnh vực nghịch lưu nối lưới, việc sử dụng phương pháp bão hòa hiện nay chỉ dừng lại cho ứng dụng nghịch lưu nối lưới 1 pha [7]. 6 Luan van T2020-21TĐ Hình 1. Mô hình mô phỏng sử dụng bộ điều khiển bão hòa HC Mô hình sử dụng bộ điều khiển bão hòa được xây dựng để mô phỏng trên MATLAB/SIMULINK được thể hiện như hình 1. Trong đó, nguồn một chiều 750V được dùng làm ngõ vào cho bộ nghịch lưu 3 pha sử dụng 6 IGBT công suất như hình 1.
Mô hình nghịch lưu 3 pha 7 Luan van T2020-21TĐ Ngõ ra gồm 3 trạng thái chuyển mạch của 3 pha gồm Sa, Sb, và Sc. Vì các ngõ ra này ở dạng double nên cần các khối convert để chuyển đổi kiểu dữ liệu sang dạng logic để kích các linh kiện công suất. Vòng khóa pha PLL (phase-locked loop) được dùng để hỗ trợ hòa đồng bộ trong quá trình điều khiển nghịch lưu nối lưới. Ngõ vào của PLL là điện áp 3 pha của nguồn lưới và ngõ ra là góc pha =t.
Đại lượng này phục vụ cho việc biến đổi dòng điện trong hệ tọa đồng bộ dq sang hệ tọa độ 3 pha abc như hình 1. Chuyển đổi hệ tọa độ abc và dq. Nguyên lý cấu trúc của vòng khóa pha PLL được mô tả như hình 1-9. Trong đó, Kp và Ki là các hệ số của bộ dao động điều khiển điện áp VCO (Voltage controlled oscillator).
8 Luan van T2020-21TĐ Hình 1-9. Nguyên lý của PLL. Với Vsa, Vsb, Vsc là điện áp của ba pha nguồn lưới.