Chương 1 TỔNG QUAN 1. Tính cấp thiết của đề tài Sử dụng năng lượng cho chiếu sáng ngày càng chiếm tỉ trọng lớn và tăng nhanh đáng kể trong tổng nhu cầu về năng lượng sử dụng trong các toà nhà và sự phát thải khí nhà kính. Tại Việt Nam, hiện nay sản lượng điện cần cung cấp cho các toà nhà (nhà hàng, khách sạn, TT, thương mại, sinh hoạt….924 tỷ kWh tương đương với 48% cơ cấu điện thương phẩm. Nhu cầu sử dụng năng lượng của các toà nhà ngày một tăng: So sánh các năm 2006 và 2009 có trên 600 toà nhà trụ sở làm việc có mức năng lượng tiêu hao tăng so với cùng kỳ (một số đơn vị tăng 3,6 lần).
Trong toàn bộ các hệ thống kỹ thuật sử dụng năng lượng (điều hoà không khí, chiếu sáng, thang máy, cấp nước, thiết bị khác…1) phục vụ cho hoạt động của các toà nhà thì hệ thống chiếu sáng là một trong những hệ thống chiếm tỷ lệ sử dụng lớn trong cơ cấu tiêu thụ năng lượng điện trong các tòa nhà. Hiện trạng sử dụng năng lượng tại các toà nhà được khảo sát trong năm 2008 - 2009 cho thấy rằng chiếu sáng là lĩnh vực tiêu thụ năng lượng chỉ sau lĩnh vực điều hoà không khí và tỉ lệ tiêu thụ năng lượng cụ thể như sau: Toà nhà công sở: 11,5%; Khách sạn: 18 %; Trung tâm thương mại: 9,11%. Do vậy, nếu tiết kiệm điện cho hệ thống này đồng nghĩa với việc tiết kiệm được điện năng tiêu thụ đáng kể trong các toà nhà công sở, tổ hợp văn phòng thương mại, khách sạn, chung cư… 1.1 Tiết kiệm điện trong chiếu sáng Giải pháp đơn giản nhất là tận dụng các nguồn sáng tự nhiên, giảm thiểu việc sử dụng thiết bị chiếu sáng. Tuy nhiên, khi bắt buộc phải sử dụng nguồn sáng nhân tạo thì có hai giải pháp chính cho việc tiết kiệm điện trong chiếu sáng điển hình như sau: Nguyễn Nhật Hải Triều Trang 1 Luan van Luận văn thạc sỹ 1.1 Sử dụng thiết bị chiếu sáng có hiệu suất phát sáng cao Giải pháp này là giải pháp thay thế các thiết bị chiếu sáng bởi các thiết bị chiếu sáng mới có tổn thất thấp hơn nhằm tiết kiệm năng lượng.
Trong các thiết bị chiếu sáng hiện đang được sử dụng thì các bóng đèn sợi đốt có hiệu suất phát sáng thấp nhất. Nói cách khác, nó có sự tổn thất cao nhất. Nguyên nhân chính của hiệu suất phát sáng thấp là do đèn phát sáng dựa trên nguyên tắc đốt nóng của sợi đốt ở nhiệt độ cao nên phần lớn điện năng bị biến thành nhiệt năng. Bóng đèn sợi đốt hiện nay được khuyến cáo là không nên sử dụng cho mục đích chiếu sáng trừ các trường hợp có yêu cầu đặc biệt.
Giải pháp chiếu sáng được khuyến nghị hiện nay tại Việt Nam và một số nước trên thế giới là sử dụng đèn huỳnh quang và đèn huỳnh quang compact. Trong khi hiệu suất phát sáng thông thường của đèn sợi đốt chỉ là từ 1 tới 3% thì đèn huỳnh quang và huỳnh quang compact là từ 15 tới 25% (thực tế do phải tiêu tán công suất cho các thiết bị phụ nên hiệu suất của đèn huỳnh quang vào khoảng 12% và đèn huỳnh quang compact vào khoảng 15%). Do có dải chiếu sáng rộng nên đèn huỳnh quang được sử dụng để chiếu sáng các không gian rộng như phòng họp, hội trường, nhà xưởng còn đèn huỳnh quang compact được sử dụng cho chiếu sáng trong không gian hẹp hoặc làm chiếu sáng công cộng. Nhược điểm lớn nhất của đèn huỳnh quang và đèn huỳnh quang compact là nó có chứa thủy ngân nên nó gây hại lớn cho môi trường nên cần một chế độ thu gom và tiêu hủy đèn hỏng đặc biệt.2 Sử dụng thiết bị điều khiển để nâng hiệu suất của đèn huỳnh quang Mặc dù có sự xuất hiện của đèn huỳnh quang compact và đèn LED nhưng nhờ ưu điểm của mình đèn huỳnh quang dạng ống đang và vẫn sẽ được sử dụng rộng rãi.
Ý tưởng phát triển các thiết bị điều khiển để nâng cao hiệu suất phát sáng là dựa trên đặc điểm phi tuyến của đèn huỳnh quang và người ta tìm cách đưa chế độ hoạt động của đèn về mức tối ưu nhằm tiết kiệm điện năng và kéo dài tuổi thọ của đèn. Khi phân tích hoạt động của đèn huỳnh quang dạng ống, người ta nhận thấy tính chất đặc biệt của đèn này sau khi khởi động là giảm điện áp cấp vào đèn sẽ làm giảm công suất tiêu thụ nhưng cường độ phát sáng thì giảm không đáng kể. Cụ thể là khi Nguyễn Nhật Hải Triều Trang 2 Luan van Luận văn thạc sỹ điện áp giảm còn 80% điện áp định mức, công suất tiêu thụ sẽ giảm còn 70% định mức trong khi cường độ sáng của đèn chỉ giảm 5% (còn 95% cường độ sáng định mức), có nghĩa là hiệu suất phát sáng của đèn tăng lên. Dựa vào tính chất đặc biệt này người ta đã chế tạo ra các bộ tiết kiệm điện sử dụng cho đèn huỳnh quang.
Bộ điều khiển này sẽ thực hiện việc giảm công suất tiêu thụ của đèn sau khi đèn khởi động xong. Có các bộ tiêu chuẩn chế tạo cho 10, 20 và 40W. Đèn huỳnh quang, một trong loại đèn phóng điện khí áp suất thấp, đã trở thành nguồn chiếu sáng nhân tạo phổ biến nhất kể vì chúng có hiệu suất chiếu sáng cao và tuổi thọ dài hơn các đèn sợi đốt. Các đèn huỳnh quang có đặc tính trở kháng âm vì thế chúng cần có một số thiết bị để hạn chế dòng được mắc nối tiếp với đèn.
Chức năng của ballast đèn là cung cấp một điện áp mồi thích hợp và kế đến là hạn chế dòng điện chạy qua đèn trong suốt quá trình hoạt động ổn đinh. Ballast của các lại đèn huỳnh quang có thể phân loại thành ballast điện từ có tần số dòng thông thường và ballast điện tử có tần số cao. Ballast điện tử hoạt động ở tần số cao (trên 25kHz) có thể đạt được một hệ số công suất cao hơn và tăng hiệu suất chiếu sáng lên 10- 20% ballast điện từ. Ngoài ra, kích thước và trọng lượng của các cuộn cảm được sử dụng trong một ballast điện tử nhỏ hơn nhiều so với ballast điện từ.
Hoạt động ở tần số cao của đèn huỳnh quang là một kỹ thuật được sử dụng ngày càng tăng, với mục tiêu nâng cao chất lượng hệ thống chiếu sáng huỳnh quang. Chúng ta biết rằng đèn huỳnh quang hoạt động ở tần số cao sẽ có hiệu quả phát sáng cao hơn. Khi đèn huỳnh quang thể hiện một đặc tính điện trở âm, một dòng điều khiển ballast là cần thiết, để hạn chế dòng phóng điện. các mô hình tính toán đèn huỳnh quang, mô phỏng chính xác hành vi thực sự của đèn huỳnh quang, trở nên vô cùng cần thiết.
Những mô hình đèn huỳnh quang tần số cao này được sử dụng cho nghiên cứu tối ưu hóa trên quan niệm về ballast điện tử. Khi nhu cầu phát triển các ballast điện tử cho các loại đèn huỳnh quang tăng lên, mô phỏng máy tính của mạch ballast điện tử trở nên hấp dẫn hơn cho các nhà thiết kế mạch để giảm bớt các thủ tục thiết kế và để có được thông tin chi tiết về các hoạt động mạch. Trong mô phỏng của ballast điện tử với tần số cao (hơn khoảng 10 kHz) Nguyễn Nhật Hải Triều Trang 3 Luan van Luận văn thạc sỹ hoạt động, mô hình đèn huỳnh quang có thể được trình bày như là một điện trở tương đương. Tuy nhiên, trở kháng tương đương đèn là khác nhau ở các cấp độ điều chỉnh khác nhau theo đặc tính trở kháng âm của bóng đèn.
Do đó, trở kháng đèn là thấp hơn ở mức năng lượng cao và cao hơn ở mức năng lượng thấp nhất có thể điều chỉnh được. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 1.1 Mục tiêu ü Tìm hiểu nguyên tắc hoạt động của đèn huỳnh quang và ballast điện tử. ü Khảo sát đặc tuyến làm việc của một loại đèn và ballast trên thị trường. ü Xây dựng mô hình toán học cho đặc tuyến làm việc của đèn.
ü Đề xuất lựa chọn thông số cho mô hình ballast điện tử. ü Thiết kế mô hình ballast cho ballast được khảo sát. ü Kiểm chứng mô hình đèn và mô hình ballast làm việc tại nhiều điều kiện khác nhau.2 Nhiệm vụ nghiên cứu ü Xây dựng thí nghiệm khảo sát đặc tính đèn. ü Khảo sát đặc tuyến làm việc của đèn huỳnh quang T8 Phillip 36 W và ballast TRITONIC 36W.
ü Xây dựng mô hình đèn cho đèn T8 Phillip 36 W và ballast TRITONIC 36W. ü Đề xuất quy trình xác định thông số cho mô hình ballast điện tử T8 Phillip 36 W. ü Thiết kế mô hình ballast cho ballast TRITONIC 36W. ü So sánh hoạt động của mô hình so với thực nghiệm.
Đối tượng nghiên cứu và giới hạn nghiên cứu ♦ Đối tượng nghiên cứu: các loại đèn huỳnh quang và ballast thông dụng trên thị trường. ♦ Giới hạn nghiên cứu: Đề tài chỉ hạn chế trong việc khảo sát đèn của Philip kết hợp với ballast của TRITONIC, các nghiên cứu sau này cần khảo sát đến các họ thiết bị trên thị Nguyễn Nhật Hải Triều Trang 4 Luan van Luận văn thạc sỹ trường để đảm bảo giải thuật xây dựng mô hình ballast có thể được áp dụng cho nhiều họ thiết bị khác nhau. Hiện nay, nhiều thế hệ đèn huỳnh quang mới đã được phát triển như T5, T8, với nhiều đặc tuyến làm việc khác nhau. Mỗi họ ballast điều khiển công suất đèn dựa trên những nguyên lý khác nhau.
Đề tài chỉ khảo sát phương án điều khiển công suất đèn dựa vào thay đổi tần số. Các nghiên cứu sau này cần so sánh phương án thay đổi điện áp và phương án thay đổi tần số để có phương pháp thiết kế ballast phù hợp. Phương pháp nghiên cứu ♦ Phương pháp thực nghiệm: Phương pháp thực nghiệm dùng để khảo sát đặc tuyến làm việc của đèn huỳnh quang và ballast điện tử. ♦ Phương pháp xây dựng mô hình: Phương pháp xây dựng mô hình dùng để xây dựng mô hình cho đèn huỳnh quang dựa theo các kết quả thực nghiệm.
♦ Phương pháp mô phỏng: Phương pháp mô phỏng dùng để kiểm chứng kết quả các mô hình có được từ mô hình đèn huỳnh quang và ballast điện tử. Các bước tiến hành Bước 1: Xây dựng thí nghiệm khảo sát đặc tuyến làm việc của đèn huỳnh quang Philip T8 và ballast điện tử Tritonic. Bước 2: Dùng công cụ overfiting và các hàm hồi quy để xây dựng mô hình đèn. Bước 3: Khảo sát nguyên lý làm việc của đèn huỳnh quang và phân tích hoạt động của đèn ở chế độ xác lập, chế độ quá độ.