CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN Ở chương đầu tiên này, tác giả tìm hiểu về tình hình nghiên cứu máy lạnh hấp thụ NH3-H2O để đánh giá được những ưu điểm và tồn tại của các nghiên cứu trong và ngoài nước. Một trong những hướng nghiên cứu mấu chốt là sự chọn lựa cấu trúc bộ hấp thụ với mong muốn là sẽ chế tạo được tại Việt Nam mà không cần sự đầu tư công nghệ mới nào. Các kết quả nghiên cứu có thể dùng để tham khảo khi thiết kế, chế tạo và vận hành máy lạnh hấp thụ.1 Tổng quan về nghiên cứu máy lạnh hấp thụ Làm lạnh bằng máy lạnh hấp thụ là một phương pháp được biết đến từ rất lâu. Tuy nhiên những ưu điểm của máy lạnh có máy nén hơi đã làm cho con người quên lãng kỹ thuật này, cho đến khi con người thấy được tác hại đến môi trường của máy lạnh có máy nén hơi thì máy lạnh hấp thụ là một lựa chọn ưu tiên hiện nay ở các nước đang phát triển.
So với máy lạnh có máy nén hơi thì máy lạnh hấp thụ có 2 khác biệt lớn nhất sau đây: Năng lượng cấp vào cho máy lạnh hấp thụ là nhiệt năng, năng lượng cấp vào cho máy lạnh có máy nén hơi là cơ năng. Môi chất làm việc trong máy lạnh hấp thụ là dung dịch của 2 chất thuần khiết có nhiệt độ sôi cách biệt nhau lớn ở cùng điều kiện áp suất. Môi chất làm việc trong máy lạnh có máy nén hơi thường là 1 chất thuần khiết hoặc hỗn hợp đồng sôi. Chu trình máy lạnh có máy nén hơi là một giải pháp thực tế và hiệu quả.
Tuy nhiên, chu trình này cần nguồn năng lượng cấp vào để quay trục máy nén là nguồn năng lượng cao cấp, đắc đỏ. Quá trình nén có thể được thay bằng các quá trình mà ở đó hơi được hấp thụ vào chất lỏng và dung dịch lỏng được bơm lên thể tích cao hơn. Điều này làm giảm công cần thiết để quay trục động cơ [1]. Hầu hết các cặp lưu chất dùng trong chu trình máy lạnh hấp thụ là: H 2O-LiBr, NH3-H2O hoặc NH3-H2O-H2 [2].
Chu trình hấp thụ H2O-LiBr ứng dụng cho nhu cầu làm lạnh lớn hơn 0oC. Tại 1 bar, nhiệt độ đông đặc của NH3 là -77,7oC, nhiệt độ bay hơi -33,4oC ứng dụng cho nhu cầu làm lạnh ở nhiệt độ thấp. Hệ thống NH3-H2O-H2 dùng NH3 làm môi chất lạnh, H2 tạo chênh lệch áp suất hơi riêng phần cho môi chất lạnh vì thế không cần bơm dung dịch. 1 Luan van Các nhà nghiên cứu đánh giá cặp môi chất làm việc NH3-H2O có tính chất vật lý và nhiệt động rất tốt [3], [4].1 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước Sự phát triển của công nghệ và vấn đề năng lượng làm cho máy lạnh hấp thụ trở thành một phương án thay thế hiệu quả và kinh tế cho máy lạnh nén hơi [5], [6].
Gần đây, việc tìm cách nâng cao hiệu quả của máy lạnh hấp thụ đang ở giai đoạn nghiên cứu cao trào [3]. Uppal và cộng sự [7] đã chế tạo một tủ lạnh hấp thụ năng suất nhỏ để chứa vaccines. Nguồn nhiệt cấp từ năng lượng mặt trời. Staicovici, 1986 phát triển hệ thống hấp thụ gián đoạn một cấp để bảo quản cá có COP thực từ 0,25 ÷ 0,3 với nhiệt độ sinh hơi và ngưng tụ lần lượt là 80 oC và 24,3oC.
Rogdakis và Antonopoulos [8] nghiên cứu hệ thống lạnh hấp thụ NH3-H2O hai cấp. Nhiệt độ môi chất lạnh có thể giảm xuống -70oC. Theo mô phỏng này, khi nhiệt độ môi trường 10oC thì COP thay đổi từ 20 ÷ 65% tương ứng với nhiệt độ bay hơi thấp nhất từ -70 ÷ - 30oC. Sun [9] phân tích nhiệt động cho các chu trình sử dụng ammonia-nước, ammonia-lithium nitrate, và ammonia-sodiumthiocyanate.
Hiệu suất của ba chu trình được so sánh cho thấy ammonia-lithium nitrate và ammonia-sodium thiocyanate có thể thay thế cho ammonia- nước. Jawahar và cộng sự [10] đã nghiên cứu nhiệt động của hệ thống lạnh hấp thụ NH3-H2O bằng công nghệ Pinch để thu hồi lượng nhiệt lớn nhất từ dòng lưu chất làm tăng hiệu suất của hệ thống. Hệ thống được mô phỏng có nhiệt độ bộ sinh hơi từ 120 ÷ 150oC, nhiệt độ giải nhiệt từ 25 ÷ 45oC và nhiệt độ bay hơi từ -10 ÷ 10oC. So với hệ thống thông thường thì COP có thể cao hơn 17 ÷ 56%.
Brice Le Lostec và cộng sự [11] làm thực nghiệm hệ thống chiller NH3-H2O một cấp đạt được COP bằng 0,6. Khi nhiệt độ bay hơi giảm, COP sẽ giảm đáng kể. Điều này có thể được giải thích bằng hiện tượng cấp liệu quá mức (overfeeding) của bộ bay hơi. Hiện tượng này cũng được quan sát từ những tác giả khác khi nhiệt độ của bộ sinh hơi tăng (Albers và Ziegler, 2003), (Asdrubali và Grignaffini, 2005).
Bên cạnh đó là sự thay đổi của năng suất lạnh từ sự điều chỉnh tiết lưu môi chất lạnh. Hiệu suất của chiller hấp thụ còn liên quan đến nguồn nhiệt, nhiệt độ giải nhiệt cũng như lưu lượng của dòng dung dịch đặc. 2 Luan van Weihua Cai và cộng sự, [12] đã nghiên cứu mô hình động học của chu trình lạnh hấp thụ một cấp. Chu trình lạnh hấp thụ tập trung vào khối lượng, động lượng và cân bằng năng lượng của từng bộ phận của hệ thống.
Vài thông số thiết kế ảnh hưởng đến hoạt động của hệ thống được xác định.1 Chu trình máy lạnh hấp thụ một cấp cơ bản Tất cả các đặc tính nhiệt động được tính dựa trên phương trình trạng thái của hỗn hợp. Họ đã cho thấy hệ số hiệu quả của chu trình tăng khi nhiệt độ bộ sinh hơi hoặc nhiệt độ bình ngưng tụ giảm. Hệ thống nhanh chóng đạt được trạng thái ổn định từ các thông số hoạt động cụ thể. Sự tăng áp suất bơm sẽ tăng hoạt động của hệ thống.
Tốc độ dòng chảy, năng suất nhiệt và COP cũng được quan sát trước khi đạt trạng thái cân bằng. Mathew Aneke và cộng sự [13] thực hiện thiết kế truyền động và so sánh hiệu suất của hai hệ thống lạnh khác nhau (Hệ thống 1: Nhiệt thải được cấp cho chu trình Rankine để sinh công nhằm quay máy nén của chu trình máy lạnh có máy nén hơi. Hệ thống 2: Nhiệt thải được cấp trực tiếp cho máy lạnh hấp thụ NH3-H2O). Kết quả mô phỏng cho thấy hệ thống 1 có COP cao hơn hệ thống 2.
Muammer Ozgoren và cộng sự [14] nghiên cứu khả năng sử dụng máy lạnh hấp thụ NH3- H2O một cấp được cấp nhiệt bằng năng lượng mặt trời ở tỉnh Adana phía nam Thổ Nhỉ Kỳ. COP làm mát thay đổi liên tục từ 0,243 ÷ 0,454. COP gia nhiệt thay đổi từ 1,243 ÷ 1,454. COP cực đại xuất hiện vào buổi sáng và cực tiểu xuất hiện vào buổi trưa.
3 Luan van Chu trình lạnh hấp thụ chủ yếu sử dụng trong các máy lạnh công nghiệp lớn. Đối với những máy lạnh hấp thụ có năng suất nhỏ thì cần thêm quá trình nghiên cứu từng bộ phận của chu trình lạnh hấp thụ. Điều đó có thể giúp thiết kế các máy lạnh hấp thụ nhỏ gọn [15]. Để phát triển máy lạnh hấp thụ năng suất nhỏ, nhiều nghiên cứu về Kỹ thuật ống-micro [6], [16], [17], [18], [19].
Ống-micro có thể sử dụng cho bình hấp thụ, bình sinh hơi, bình ngưng tụ, bộ bay hơi, và ống chiết tách nước trong máy lạnh hấp thụ nguyên cụm có năng suất nhỏ thì rất nhỏ gọn [16]. Vào năm 2000, Hammad và Habali [20] chế tạo một hộp thép có diện tích 0,6m x 0,3m cao 0,5m dùng để chứa vaccine cho những vùng sa mạc xa xôi không có mạng lưới điện quốc gia. Chu trình máy lạnh hấp thụ NH3-H2O vận hành bằng năng lượng mặt trời được thiết kế để giữ cho nhiệt độ trong hộp đạt theo yêu cầu. Nhiệt độ môi trường khoảng 45°C vào tháng 8.
Tiến trình mô phỏng bằng máy tính được phát triển để nghiên cứu hiệu suất và đặc tính của chu trình lạnh. Máy lạnh hấp thụ được cấp nhiệt từ các bộ thu tập trung có thời gian hoạt động 7 giờ ban ngày. Nhiệt độ lưu chất ra khỏi bộ thu có thể lên đến 200°C, COP đạt từ 0,5 ÷ 0,65. Khi nhiệt độ tối ưu đạt 120°C thì COP đạt 0,65.
Nồng độ khối lượng của dung dịch nạp là 25%. Hệ thống hoạt động suốt tháng 6 và 7 với 8 giờ hoạt động mỗi ngày từ 8 giờ sáng tới 4 giờ chiều. Romero [21] mô phỏng bình hấp thụ dạng bọt với 3 cặp lưu chất làm việc khác nhau NH3-H2O, NH3-LiNO3 và NH3-NaSCN để phân tích hiệu suất bình hấp thụ dạng tấm. Máy lạnh hấp thụ có năng suất lạnh 1kW.
Nhiệt độ bình sinh hơi tối thiểu thì dòng chất hấp thụ vào dung dịch NH3-H2O, NH3-LiNO3 và NH3-NaSCN, lần lượt là 0,0086; 0,0058 và 0,0085kg/(m2. Đối với cặp lưu NH3-H2O, nhiệt độ bay hơi -5°C, nhiệt độ hấp thụ, và nhiệt độ ngưng tụ được cố định ở 40°C. Khi nhiệt độ hoạt động tối thiểu 115°C, nồng độ và nhiệt độ dung dịch loãng vào bình hấp thụ lần lượt là 33,4% và 55,3°C thì COP đạt 0,48. Khi nhiệt độ hoạt động tối thiểu 120°C, nồng độ và nhiệt độ dung dịch loãng vào bình hấp thụ lần lượt là 31,2% và 55,8°C thì COP đạt 0,49.
Al-Mansoori [22] phân tích hệ số hiệu COP, năng suất của bộ phận trong hệ thống (bộ bay hơi, bình hấp thụ, bình ngưng tụ), nồng độ dung dịch đặc và loãng, lưu lượng của dung dịch loãng, và lưu lượng dòng hơi qua bộ bay hơi của máy lạnh hấp thụ NH3-H2O. Nồng độ dung dịch đặc thực nghiệm là 36,8%. 4 Luan van Berhane H. Gebreslassie, Marc Medrano, Filipe Mendes, Dieter Boer [23] tối ưu hóa diện tích truyền nhiệt của các bộ phận trong máy lạnh hấp thụ.
Máy lạnh hấp thụ này được ứng dụng để làm lạnh nước có năng suất lạnh 5kW. Nước cần làm lạnh chảy vào và ra bộ bay hơi lần lượt là 16°C và 11°C. Nước giải nhiệt vào và ra bình ngưng lần lượt là vào 40°C và ra 49°C; nhiệt độ dung dịch trong bình sinh hơi 103,8°C đến 110°C; Nồng độ dung dịch đặc là 46,3% và loãng là 41,4%. Nhiệt độ môi trường vào mùa hè là 30°C.
COP cơ bản của máy là 0,56. Saravanan [24] nghiên cứu thực nghiệm máy lạnh hấp thụ NH3-H2O truyền thống kết hợp thêm các bộ trao đổi nhiệt hấp thụ-sinh hơi GAX (generator-absorber heat exchange) giải nhiệt bằng không khí. Máy lạnh có năng suất lạnh 10,5kW, có khả năng bay hơi ở -5°C, nhiệt độ môi trường là 35°C. Kết quả cho thấy nhiệt độ tại bình sinh hơi và bộ bay hơi lần lượt là 120°C và 2°C, cho năng suất lạnh là 9,5kW, COP là 0,57.
Bình hấp thụ dạng màng chảy được sử dụng trong hệ thống.