Chương 1. Giới thiệu 5 quan đến vấn đề tắc nghẽn. Ngoài ra, do hạn chế về thời gian cũng như muốn tập trung vào việc phát triển sâu về mặt lý thuyết, chúng tôi chưa xây dựng một giao diện tương tác với người dùng trong việc tùy chỉnh topology của WSN.4 Đóng góp của đề tài Đề tài đã đề xuất một mô hình CPN biểu diễn các thành phần và hoạt động của mạng cảm ứng không dây. Mô hình này được mở rộng để thể hiện tính đồng thời của một WSN.
Trên mô hình thu được, các kỹ thuật phân tích được áp dụng để phát hiện tắc nghẽn. Việc phát hiện tắc nghẽn có vai trò quan trọng nhằm kéo đài tuổi thọ của WSNs. Ngoài ra, trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã công bố được ba bài báo khoa hoc. Bài thứ nhất đã được trình bày trong hội nghị quốc tế The Seventh International Conference On Knowledge And Systems Engineering (KSE 2015) tại thành phố Hochiminh, Vietnam vào tháng 10 năm 2015.
Bài thứ hai đã được trình bày trong hội nghi quéc té International Technical Conference on Circuits/Systems, Computers and Communications (I[TC-CSCC) lan thtt ba musi mốt tổ chức tại thành phố Okinawa, Nhật Bản vào tháng 07 năm 2016. Bài thứ ba được xuất bản ở tạp chí quốc tế International Journal of Applied Information Systems (IJAIS). Thong tin trích dẫn của ba bài báo này như sau: e Pham Duy Bao Trung, Trinh Van Giang, Le Dinh Thuan, Quan Thanh Tho, ”Reusing Symbolic Observation Graph for Efficient Model Checking”, The Seventh International Conference On Knowledge And Systems Engineering (KSE 2015), Vietnam, 2015 e Trinh Van Giang, Kunihiko Hiraishi and Quan Thanh Tho, “Modeling and Analysing Boolean Networks by Coloured Petri Nets”, 31st International Technical Conference on Circuits/Systems, Computers and Communications (ITC-CSCC 2016), Okinawa Jichikaikan, Japan, 2016 e Giang Trinh, Khanh Le, Tam Bang, Quan Tram, Thang Bui and Tho Quan. Modelling and Congestion Detection of Wireless Sensor Networks: A Concurrent- based Approach using Coloured Petri Nets.
International Journal of Applied Information Systems 11(7):1-9, December 2016.5 Cấu trúc luận văn Nội dung các phần còn lại của luận văn được phân bố như sau. Chương 2 trình bày sơ lược các công việc liên quan đến đề tài, như là xuất phát điểm rất tốt cho các ý tưởng mà đề tài đề xuất. Chương 3 trình bày các kiến thức nền mà chúng tôi đã sử dụng bao gồm mạng cảm ứng không dây, lý thuyết Petri nets, lý thuyết Coloured Petri nets cả không phân cấp (non-hierarchical) lan phân cap (hierarchical), cong cụ CPN Tools cùng ngôn ngữ luận lý thời gian ASK-CTL dùng cho việc kiểm tra mô hình. Nội dung của chương này sẽ giúp người đọc tiếp cận những phần còn lại của luận văn một cách dễ dàng hơn.
Nội dung chính của luận văn nằm ở Chương 4 và Chương 5. Chương 4 trình bày về cách mô hình hoá mạng cảm ứng không dây bằng Coloured Petri nets. Mô hình Hierarchical Coloured Petri nets được đề xuất bởi các ưu điểm vượt trội của nó. Nội dung của Chương 5 là phương pháp phân tích mô hình Coloured Petri nets đã xây dựng để phát hiện tắc nghẽn trên mạng cảm ứng không dây.
Chúng tôi cũng trình bày chỉ tiết cách sinh phản ví dụ (counter example), một chỉ dẫn giúp xác định nguồn xảy ra tắc nghẽn. Chương 6 sẽ được dùng để trình bày về thí nghiệm mà chúng tôi đã tiến hành. Kết quả thí nghiệm được phân tích và so sánh với các nghiên cứu đã có. Trong chương cuối cùng, Chương 7, chúng tôi dùng để tổng kết, nhận xét nội dung báo cáo, cũng như nêu lên một số hướng mở rộng đề tài có thể được tiến hành trong tương lai.
Chương 2 Nghiên cứu liên quan 2.1 Công cụ giả lập mạng cảm ứng không dây Để đánh giá sự hoạt động của một giao thức định tuyến, thông thường người ta sẽ xây dựng thuật toán của giao thức đó trên các công cụ giả lập ví dụ như: ns-2 [8] hay OMNeT++ |9] và so sánh các kết quả đạt được khi thực thị thuật toán của mình với những thuật toán có sẵn. Sự giả lập này có ưu điểm là cho ta thấy được một cách tổng quát tầm hoạt động, ưu và nhược điểm của một giao thức khi nó hoạt động trên mạng cũng như đưa ra được con số cảnh báo đe dọa sự hoạt động của giao thức. Tuy nhiên, chúng ta cũng gặp rất nhiều hạn chế khi sử dụng giả lập vì phụ thuộc hoàn toàn vào khung chương trình (framework) ma cong cụ giả lập hỗ trợ. Chúng tôi nhận thấy rằng cứ vài năm, các giả lập này lại thay đổi sự hỗ trợ cho khung chương trình chính, mỗi lần như thế gần như người sử dụng phải bắt đầu mọi thứ lại từ đầu vì sự khác biệt về cấu trúc của các khung chương trình.
Ví dụ: céng cu gia lap OMNeT++ dùng hai khung chương trình là MF (Mobility Framework — khung chương trình chính được hỗ trợ từ năm 2007 đến 2010) [17] va INET (khung chương trình chính được hỗ trợ hiện nay) [18]. Chúng ta hãy cùng tìm hiểu sự khác nhau khi xây dựng một thuật toán định tuyến cơ bản của hai khung chương trình ME và [NET trên công cụ giả lập OMNeT++. Về cơ bản khi xây dựng những giao thức định tuyến ta chủ yếu viết các hàm ở tầng Network trong kién tric TCP/IP, cdc ham ở tầng bên dưới nhờ sự hỗ trợ Chương 2. Nghiên cứu liên quan 8 SimpleNetwLayer » Network SimpleNetwLayer Network Tnterface Hinu 2.1: Lập trình giao thức định tuyến trên giả lập OMNeT++ với khung chương trình ME.
của khung chương trình mf nên hầu như ta không cần thay đổi nhiều. Các hàm ta cần thay đổi chủ yếu trong lớp SimpleNetwLayer như Hình 2. Với INET, một khung chương trình được viết ra để hỗ trợ lập trình các ứng dụng ở tầng cao như Application, Transport, hay Network trong khi ME lại hỗ trợ các giao thức tầng thấp (như Network Interface) nên khi lập trình giao thức định tuyến ngoài tầng Network (tầng hoạt động chính của giao thức định tuyến) thì các tầng bên dưới cũng cần thay đổi.2 minh họa các mô-đun cần cho một giao thức định tuyến trên mạng khi sử dụng INET. Application z m \ ` mm Transport En =am.2: Lập trình giao thức định tuyến trên giả lập OMNeT++ với khung chương trình INET.
Nghiên cứu liên quan 9 2.2 Mô hình và kiểm chứng mạng cảm ứng không dây bằng Petri nets Để giải quyết vấn đề phát hiện tắc nghẽn trên mạng cảm ứng không dây, các tác giả của [7] đã đề xuất một phương pháp hướng nghẽn cho việc mô hình và kiểm chứng WSNs sử dụng Place/Transition nets (P/T nets hoặc PNs) [19]. Trong phương pháp này, họ chỉ tập trung vào sự phân bố số lượng gói tỉn trên mạng với lý do vì nguyên nhân xảy ra tắc nghẽn chủ yếu là tràn bộ đệm của cảm biến hoặc kênh truyền. Họ đã phát triển một công cụ gọi là WSN-PN cho phép tạo và chỉnh sửa topology cho mạng, sinh tự động mô hình PN tương ứng, và phát hiện tắc nghẽn bằng kiểm chứng công thức luận lý thời gian tuyến tính LTL (Linear Temporal Logic) trén mo hinh PN nay. Hon thế nữa, công cụ WSN-PN cũng hỗ trợ người dùng trừu tượng hoá các thành phần, có thể là cảm biến hoặc là kênh truyền, áp dụng lên mô hình PN giúp rút giảm không gian trạng thái đáng kể.
Dưới đây, chúng tôi sẽ trình bày chỉ tiết về hướng tiếp cận trên bởi nó là cơ sở để đề tài này phát triển lên. Một WSN bao gồm một số cảm biến, chúng có thể giao tiếp với nhau thông qua tin hiéu wi-fi. Ỏ đây có 3 loại cảm biến là: cảm biến nguồn (source sensor), cam bién dich (sink sensor), va cam bién trung gian (intermediate sensor). Cam biến đích thường là cảm biến hoặc máy tính có cấu hình mạnh.
Vai trò của cảm biến nguồn là sinh và gửi gói tin đi, của cảm biến trung gian là nhận và chuyển tiếp gói tin, của cảm biến đích là nhận và xử lý gói tin. Trong một số ứng dụng, vai trò của cảm biến nguồn và cảm biến trung gian là giống nhau, có nghĩa là chúng có thể sinh và gửi gói tin. Với trường hợp này, ta có thể mô hình một cảm biến nguồn và một cảm biến trung gian thành một node chung trong mô hình WSN-PN [7]. Các cảm biến có thể được kết nối ở chế độ ưnicast, multicast, hoặc broadeast; mỗi chế độ xác định các cặp hai cảm biến cụ thể có thể trao đổi thông tin hay không.
Nếu hai cảm biến có thể giao tiếp, chúng ta nói rằng ở đây có một kênh truyền được hình thành cho hai cảm biến này. Thông tin về cách bố trí các cảm biến và kênh truyền tạo thành topology của một WSN [20]. Một ví dụ về topology được cho trong Hình 2.3, biểu diễn một WSN gồm 10 cảm biến. Cảm biến nguồn được ký hiệu là hình tròn hai đường, cảm biến đích được ký hiệu là hình tròn tô Chương 2.
Nghiên cứu liên quan 10 đen. Các cảm biến còn lại đóng vai trò như là các cảm biến trung gian, chuyên chở thông tin từ cảm biến nguồn tới cảm biến đích. Source Sensor2 Sensor7 Sensor10 Sensor4 ( Ý S9ensor3 Sensor9 Sensor6 Sink HÌNH 2.3: Một WSN vi dụ với 10 cảm biến. Trong hướng tiếp cận của nhóm tác giả [7], mỗi cảm biến vật lý được mã hoá như là một bộ {?,Q,p,s}; trong đó là một bộ đệm (sensor bujƒer) chứa các gói tin đến, Q là một hàng đợi giữ các gói tin đã qua xử lý và đang chuẩn bị được gửi đi, p là tốc độ xử lý gói tin (processing rate) xác định tỉ lệ các gói tin đang được chuyển từ Ö tới Q, còn s là tốc độ gửi gói tin đi (sending rafe) xác định tỉ lệ các gói tin đang được chuyển từ @ tới các kênh truyền kết nối với cảm biến.
Trong khi đó, mỗi kênh truyền cũng được mã hoá như là một bộ { Ö,, £}; trong đó Ö, là bộ đệm lưu trữ các gói tin đã được xử lý ở kênh truyền, và £ là tốc độ truyền dẫn (fransmission rafe) của các gói tin mà kênh truyền có thể quản lý để xử lý (gửi tới các cảm biến kết nối với kênh truyền).1 mô tả một ví dụ về thiết lập thông số cho các cảm biến nguồn và cảm biến trung gian trong Hình 2. Thường thì các cảm biến được thiết lập thông số đồng đều nhau.1: Vi du vé thiét lap thong sé cho mot WSN don giản. Cam bién nguén | Cam bién dich Tốc độ gửi gói tin 2-3 gói tìn/ms N/A Kích thước bộ đệm 50 gói tin 100 gói tin Kích thước gói tin 1KB 1KB Tốc độ xử lý gói tin 2-3 ms/gói tin 1-2 ms/gói tin Các tác giả đã định nghĩa các luật ngữ nghĩa chức nang (operational semantic rules) m6 ta hành vi của của các cảm biến và kênh truyền trên một WSN.