phần mở đầu, mục lục, bảng biểu, tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc bố cục thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Lý thuyết về truyền thông quảng bá du lịch và vai trò của báo chí đối với quảng bá du lịch Chƣơng 2: Thực trạng truyền thông quảng bá du lịch địa phƣơng trên báo điện tử khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Chƣơng 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông quảng bá du lịch trên báo điện tử khu vực đồng bằng sông Cửu Long. 11 Chƣơng 1: LÝ THUYẾT VỀ TRUYỀN THÔNG QUẢNG BÁ DU LỊCH VÀ VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ ĐỐI VỚI QUẢNG BÁ DU LỊCH 1. Cơ sở lý luận về truyền thông và truyền thông quảng bá 1.
Truyền thông: Theo các tài liệu, giáo trình về lý luận báo chí - truyền thông, thuật ngữ “truyền thông” tiếng Anh là “communication” có nguồn gốc từ tiếng Latinh “commune” có nghĩa là “chung”, “cộng đồng”. Truyền thông là nội dung, cách thức, phƣơng tiện để đạt đến sự hiểu biết lẫn nhau giữa những cá nhân với cá nhân hoặc cá nhân với cộng đồng xã hội. Nhờ truyền thông, giao tiếp mà con ngƣời tự nhiên trở thành con ngƣời xã hội. Từ nhiều phân tích, có thể khái niệm về thuật ngữ “truyền thông” là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm…, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của các nhân/nhóm/cộng đồng/xã hội.
Có các điểm cần lƣu ý khi phân tích thuật ngữ “truyền thông”, đó là: truyền thông là một “quá trình trao đổi thông tin liên tục” giữa ít nhất hai cá thể, truyền thông nhằm “tạo sự hiểu biết lẫn nhau, làm thay đổi nhận thức và điều chỉnh hành vi”, điều này nhấn mạnh đến tính mục đích cũng nhƣ hiệu quả của quá trình truyền thông. Đây là những yếu tố quan trọng để khi nghiên cứu các vấn đề thuộc về lĩnh vực truyền thông, ngƣời nghiên cứu có góc nhìn toàn diện hơn. Các yếu tố cơ bản của quá trình truyền thông gồm: nguồn (source), thông điệp (message), kênh truyền thông (channel), ngƣời nhận (receiver). Phân tích cụ thể các yếu tố này nhƣ sau: - Nguồn: là yếu tố đầu tiên của truyền thông, có thể là cá nhân hoặc tổ chức phát ra thông tin, bắt đầu quá trình truyền thông.
12 - Thông điệp: thông tin đƣợc diễn giải bằng ngôn ngữ có thể hiểu đƣợc và có thể tiếp nhận. - Kênh truyền thông: cách thức, phƣơng tiện thể hiện thông điệp để ngƣời nhận có thể nhận biết đƣợc bằng giác quan (nhìn thấy, nghe thấy, ngửi, nếm, chạm). - Ngƣời nhận: là một cá nhân hoặc một tổ chức, cộng đồng tiếp nhận thông điệp. Mục đích của truyền thông là ngƣời nhận tiếp nhận đƣợc thông tin và có sự hiểu biết về thông tin đó, từ đó có những hành động tƣơng ứng.
Quá trình truyền thông phải là quá trình hai chiều. Cả ngƣời khởi xƣớng và ngƣời tiếp nhận thông tin đều tham gia vào quá trình truyền thông. Ngƣời tiếp nhận thông tin cũng có sự phản hồi lại thông tin đƣợc tiếp nhận. Theo Harold Lasswell mô hình truyền thông [8, tr.29] đƣợc thể hiện nhƣ sau: Nguồn Thông Kênh Tiếp nhận phát điệp Từ mô hình truyền thông của Harold Lasswell đã làm nền tảng cho các nghiên cứu về truyền thông ở những giai đoạn sau.
Tiếp theo đó, qua nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, trong đó có Claude Shannon, quá trình truyền thông còn có yếu tố “phản hồi” (Feedback) và “nhiễu” (Noise). Trong đó, phản hồi là sự tác động ngƣợc trở lại nguồn phát từ phía ngƣời tiếp nhận thông tin. Sự phản hồi có thể đƣợc xem là yếu tố quan trọng làm cho quá trình truyền thông đƣợc diễn ra liên tục, là chứng minh cho tính hai chiều của truyền thông, truyền thông không áp đặt. Còn yếu tố “nhiễu” lại đƣợc chứng minh là luôn tồn tại trong quá trình truyền thông.
Đó là các hiện tƣợng thông 13 tin trở nên kém chất lƣợng hay bị sai lệch do bị ảnh hƣởng bởi điều kiện tự nhiên, xã hội hoặc phƣơng tiện kỹ thuật, con ngƣời. Một số nghiên cứu cho rằng nếu tận dụng đƣợc yếu tố “nhiễu” cũng tạo ra đƣợc hiệu ứng cho quá trình truyền thông. Mô hình truyền thông của Claude Shannon [8,tr.30] đƣợc thể hiện nhƣ sau: N S M C R E F Trong đó, các yếu tố đƣợc thể hiện bao gồm: -S (Source, Sender): nguồn phát, chủ thể truyền thông -M (Message): thông điệp, nội dung truyền thông -C (Channel): kênh truyền thông -R (Receiver): ngƣời nhận thông điệp (đối tƣợng) -E (Effect): hiệu quả truyền thông -N (Noise): nhiễu, yếu tố gây ra sai số cản trở thông điệp -F (Feedback): phản hồi 1. Truyền thông đại chúng: Căn cứ vào các tiêu chí khác nhau, sẽ có các cách phân loại khác nhau cho dạng thức hay loại hình truyền thông.
Có truyền thông nội cá nhân, truyền thông liên cá nhân, truyền thông nhóm, truyền thông đại chúng. 14 Đối tƣợng nghiên cứu trong luận văn là “truyền thông đại chúng”.TS Dƣơng Xuân Sơn: “Truyền thông đại chúng là dạng thức truyền thông - giao tiếp với công chúng xã hội rộng rãi, được thực hiện thông qua các phương tiện kỹ thuật và công nghệ truyền thông, với phạm vi ảnh hưởng rộng lớn tới công chúng - nhóm lớn xã hội. Một số loại hình truyền thông đại chúng tiêu biểu là: sách, báo in, các ấn phẩm in ấn, điện ảnh, phát thanh, truyền hình, quảng cáo, video clip, internet…” [33, tr. Về tính mục đích của truyền thông, theo PGS.TS Nguyễn Văn Dững, “từ phương diện kênh hay phương diện truyền thông, truyền thông đại chúng có thể được hiểu là hệ thống các phương tiện truyền thông hướng tác động vào đông đảo công chúng xã hội (nhân dân các vùng miền, cả nước, khu vực hay cộng đồng quốc tế) nhằm thông tin, chia sẻ, lôi kéo và tập hợp, giáo dục, thuyết phục và tổ chức đông đảo nhân dân tham gia giải quyết các vấn đề kinh tế - văn hóa - xã hội đã và đang đặt ra” [7, tr.
Trong truyền thông đại chúng, các loại hình báo chí nhƣ báo in, tạp chí, phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử đƣợc đánh giá là có vị trí trung tâm, vai trò nền tảng, chi phối sức mạnh, bản chất và khuynh hƣớng vận động của truyền thông đại chúng. Báo chí và báo điện tử: “Báo chí” là một trong các phƣơng tiện truyền thông đại chúng. Theo Điều 3, Luật Báo chí sửa đổi, bổ sung năm 2016, báo chí là sản phẩm thông tin về các sự kiện, vấn đề trong đời sống, xã hội, thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, đƣợc sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát hành, truyền dẫn tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử [20]. Tuy nhiên ở phƣơng diện rộng, theo quan điểm hệ thống,“bản chất của báo chí - truyền thông là hoạt động thông tin - giao tiếp xã hội trên quy mô 15 rộng lớn nhất, là công cụ và phương thức kết nối xã hội hữu hiệu nhất, là công cụ và phương thức can thiệp xã hội hiệu quả nhất trong mối quan hệ với công chúng và dư luận xã hội, với nhân dân và với các nhóm lợi ích, với các nước trong khu vực và quốc tế…” [7, tr.
Phân tích bản chất của báo chí - truyền thông theo quan điểm hệ thống cho thấy, “báo chí là hiện tượng xã hội luôn tồn tại và phát triển trong những điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể dưới sự tác động và chi phối trực tiếp của thiết chế chính trị, quyền lực chính trị; được sự hỗ trợ tối đa của các phương tiện kỹ thuật và công nghệ. Chính vì vậy, để phân tích về bản chất của báo chí - truyền thông cần nhìn ở quan điểm hệ thống để đánh giá một cách tổng quát. Theo quan điểm hệ thống, báo chí đƣợc đặt trong các mối quan hệ với nhiều thành tố khác nhƣ: thể chế chính trị, quyền lực chính trị, quyền lực nhà nƣớc của một đất nƣớc, cơ quan chủ quản, nhà báo - chủ thể trực tiếp hoạt động báo chí, các sản phẩm báo chí, kênh chuyển tải, công chúng xã hội, tổ chức chính trị - xã hội và thực tiễn đời sống xã hội. “Báo điện tử” là khái niệm đƣợc sử dụng phổ biến trong nƣớc.
Điều 3, Luật Báo chí sửa đổi, bổ sung năm 2016, báo điện tử là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, đƣợc truyền dẫn trên môi trƣờng mạng, gồm báo điện tử và tạp chí điện tử [20]. Nguyễn Thị Trƣờng Giang (Học viện Báo chí và Tuyên truyền), khái niệm “báo điện tử” có nghĩa rất chung chung, không giúp hiểu rõ đặc điểm của loại hình báo chí phát hành trên mạng. Nhƣ vậy, do chƣa có khái niệm chính thức về “báo điện tử”, luận văn sử dụng khái niệm “báo mạng điện tử” để phân tích các đặc điểm của loại hình này. Nhƣ vậy, “báo mạng điện tử là một loại hình báo chí được xây dựng dưới hình thức của một trang web, phát hành trên mạng internet, có ưu thế trong chuyển tải thông tin một cách nhanh chóng, tức thời, đa phương tiện và tương tác cao” [14, tr.
16 - Ưu điểm và hạn chế của báo điện tử: Theo Chỉ thị số 52-CT/TW ngày 22/7/2005 của Ban bí thƣ Trung ƣơng Đảng về phát triển và quản lý báo điện tử ở nƣớc ta hiện nay, báo điện tử có tác dụng và tiện ích hơn các loại hình báo chí truyền thống do dung lƣợng thông tin rất lớn, tƣơng tác thông tin nhanh, phát hành không bị trở ngại về không gian, thời gian, biên giới quốc gia. Từ khi ra đời, báo điện tử nƣớc ta đã góp phần quan trọng vào việc phổ biến, tuyên truyền chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc; mở rộng hiệu quả thông tin đối ngoại; nâng cao dân trí và thỏa mãn nhu cầu thông tin, hƣởng thụ văn hóa của nhân dân. Các ƣu điểm của báo điện tử đƣợc chỉ ra là: có lợi thế về dung lƣợng truyền tải, không bị giới hạn khuôn khổ, số trang nên có khả năng truyền tải thông tin không giới hạn, có thể cung cấp thông tin một cách chi tiết. Thông tin đƣợc xâu chuỗi lại theo các chủ đề liên kết với nhau, với từ khóa chung, giúp độc giả dễ tiếp cận; đƣợc lƣu trữ theo ngày tháng, lâu dài.
Báo điện tử không phụ thuộc vào khoảng cách địa lý, thông tin đƣợc truyền tải khắp toàn cầu một cách sinh động.