Chương 1: Khái quát về ngôn ngữ Tày, thơ viết bằng tiếng Tày và nhà thơ Dương Khâu Luông. Chương 2: Những mạch nguồn cảm hứng mang đậm bản sắc văn hóa Tày. Chương 3: Những phương diện nghệ thuật thể hiện bản sắc văn hóa Tày. 9 c NỘI DUNG Chƣơng 1 KHÁI QUÁT VỀ NGÔN NGỮ TÀY, THƠ VIẾT BẰNG TIẾNG TÀY VÀ NHÀ THƠ DƢƠNG KHÂU LUÔNG 1.
Khái quát về ngôn ngữ Tày Ngôn ngữ luôn là vấn đề đặc biệt quan tâm của những người sáng tác văn học, đặc biệt là đối với các nhà thơ, bởi ngôn ngữ là phương tiện chuyển tải quan trọng nhất về tình cảm, tâm hồn, tư tưởng, tình cảm đến với độc giả. Không chỉ thế, ngôn ngữ còn góp phần cho việc thể hiện bản sắc của dân tộc tốt nhất. Ngôn ngữ Tày là tiếng nói của người Tày. Tiếng Tày là một ngôn ngữ thuộc nhóm Tày Thái, có địa bàn phân bổ từ đảo Hải Nam miền nam Hoa lục, bắc Đông Dương, Thái Lan và Đông Bắc Miến Điện.
Ở Việt Nam, tiếng Tày là ngôn ngữ của gần hai triệu người Tày, ngoài ra còn là ngôn ngữ giao tiếp chung của nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống trên địa bàn Việt Bắc và Tây Bắc. Dân tộc Tày là dân tộc thiểu số đông dân nhất Việt Nam. Theo kết quả điều tra dân số năm 2009, dân tộc Tày có 1. Địa bàn cư trú của đồng bào dân tộc Tày thuộc các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam như: Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang, Yên Bái…và một số tỉnh ở phía Nam như: Đắc Lắc, Lâm Đồng, Gia Lai… cũng có người Tày cư trú, nhưng họ là cư dân mới chuyển vào trong thời gian gần đây.
Như vậy, có thể nói khu vực Đông Bắc Bộ được coi là nơi sinh tụ lâu đời của người Tày trong đó Lạng Sơn (có 259.496 người) và Cao Bằng (có 207. Đây là hai tỉnh có số người Tày cư trú đông đúc nhất. Tiếng Tày là ngôn ngữ có chữ viết cổ dựa trên cơ sở chữ Hán (chữ Nôm Tày). Hình thái văn tự này đã để lại cho thế hệ hôm nay một kho tàng thư tịch cổ rất đồ sộ.
Từ những năm đầu thế kỷ 20, nhất là những năm kháng chiến chống Pháp, cùng với sự phổ biến chữ Quốc ngữ, chữ viết tiếng Tày được La 10 c tinh hoá bằng cách dùng chữ quốc ngữ ghi âm tiếng Tày. Năm 1961, Chính phủ đã phê chuẩn phương án tiếng Tày - Nùng (La tinh hoá), loại chữ viết ghi âm trên cơ sở chữ viết Quốc ngữ. Về mặt ngữ âm, hệ thống nguyên âm tiếng Tày gồm 11 nguyên âm đơn, 3 nguyên âm đôi, âm đầu chỉ do phụ âm đảm nhiệm có tất cả 20 âm đầu. Về hệ thống ngữ âm tiếng Tày, tiếng Tày phát âm rời theo âm tiết (tiếng).
Cấu tạo âm tiết tiếng Tày gồm năm thành tố, đó là: Phụ âm đầu, âm đệm, nguyên âm, âm cuối và thanh điệu. Về thanh điệu tiếng Tày có 5 thanh điệu: thanh huyền, thanh sắc, thanh hỏi, thanh nặng, thanh lửng riêng thanh ngã là không có. Từ thanh 1 đến thanh 5 nói chung đều có độ cao và tính chất gần như những thanh có tên gọi tương ứng với tiếng Việt. Riêng có thanh lửng tương đối đặc biệt (thanh này là thanh thấp hơn thanh huyền, có chiều thoai thoải đi xuống), thanh lửng tồn tại ở nhiều địa phương tiếng Tày - Nùng có những vùng không có thanh lửng thường được thay thế bằng những âm tiết mang thanh hỏi và gây ra hiện tượng đồng âm.
Ví dụ: po (bố, đực); pỏ (một nắm lúa) ở những vùng không có thanh lửng thì đều phát âm là pỏ. Về mặt từ vựng tiếng Tày gồm hai bộ phận, đó là bộ phận từ vựng chiếm vị trí chủ đạo được dùng nhiều trong lĩnh vực đời sống hàng ngày của đông đảo nhân dân. Ví dụ: những từ chỉ tự nhiên như tha vằn (mặt trời), đin (đá), phân (mưa)…, hay những từ chỉ thời gian, không gian như pi (năm), khuôp nưa (cả năm, đầy năm), bươn (tháng), vằn (ngày), nưa (trên), tển (ngắn), quây (xa)…đến các từ chỉ động vật mò (bò), vài (trâu), mu (lợn), ma (chó), nộc (chim), lình (khỉ)…bộ phận thứ hai là lớp từ vay mượn. Tiếng Hán là một trong những ngôn ngữ có quan hệ lâu đời nhất với tiếng Tày - Nùng, cùng với địa vực cư trú liền kề, do những nhu cầu lịch sử xã hội, do suốt mấy trăm năm nhà nước phong kiến chủ trương học chữ Hán để phát triển dân trí cho nên tiếng Tày đã thu hút một số lượng lớn tiếng Hán và từ Hán -Việt.
Lớp từ này thường 11 c để diễn đạt những khái niệm trừu tượng chẳng hạn như chiềng mừa (kính thưa), sleng (sinh đẻ), xạ hội chủ ngịa (xã hội chủ nghĩa), hay các thuật ngữ: khoa học, văn hóa, đất nước, đảng ủy…đều được vay mượn từ lớp từ Hán Việt của ngôn ngữ Việt. Điều đó cũng dễ hiểu bởi hai tộc người Tày và Kinh có hàng trăm năm giao lưu văn hóa, và sự hòa hợp nhân chủng khiến tiếng Việt có ảnh hưởng ngày càng sâu sắc đến tiếng Tày. Tuy nhiên sống trong một môi trường về điều kiện, về vị trí địa lí khá đặc biệt nên ngôn ngữ tiếng Tày mang những sắc thái riêng, sự giàu có riêng không thể hòa lẫn với ngôn ngữ của các dân tộc khác. Về mặt chữ viết, các nhà nghiên cứu Tày - Nùng cho thấy, giai đoạn cổ đại người Tày có thể đã có chữ viết riêng của mình, nhưng cùng với thời gian cùng với sự tác động của nhiều nhân tố khác nhau chữ viết cổ đã bị thất truyền.
Đến giai đoạn cận đại có sự xuất hiện của chữ Nôm Tày. Đây là loại chữ ghi âm tiếng Tày dựa vào Hán tự. Sự ra đời của chữ Nôm Tày đã góp phần bảo lưu và giữ gìn một kho tàng tri thức rất quan trọng của người Tày. Nhờ có chữ Nôm mà người Tày có cả một kho tàng thư tịch Nôm phong phú về số lượng và thể loại: ghi chép gia phả, điền sản, những bài thuốc gia truyền, lịch sử.
Đặc biệt là người Tày có cả một nền văn học Nôm, sli, lượn, phong slư. Và nhất là truyện thơ. Đến thời hiện đại khi chữ Nôm Tày vẫn còn phát triển thì có thêm sự xuất hiện kiểu chữ Tày dạng La tinh. Đó là năm 1961, nhà nước Việt Nam đã xây dựng hệ thống chữ viết cho dân tộc Tày trên cơ sở của chữ Quốc ngữ bằng các con chữ của chữ cái La tinh.
Từ đó đến nay, kiểu chữ này được sử dụng rộng rãi trong các văn bản phát thanh, tài liệu tuyên truyền, văn học nghệ thuật… Ngôn ngữ là tiền đề cho đối tượng văn hoá phát triển. Và sự phát triển của văn hoá tạo tiền đề trở lại cho ngôn ngữ phát triển. Chính vì vậy, người Tày đã sử dụng ngôn ngữ để ghi chép và gìn giữ những giá trị văn hoá vật chất cũng như văn hoá tinh thần của dân tộc mình. Một số điểm giống nhau giữa tiếng Tày và tiếng Việt: Về từ ngữ, ngữ pháp tiếng Tày cấu tạo cơ bản giống như trong tiếng Việt (vị trí chủ ngữ, vị 12 c ngữ, động từ, tính từ…); Về thanh điệu cũng tương đối giống tiếng Việt (tiếng Tày có 5 thanh điệu, riêng thanh ngã là không có); Về chữ viết, tiếng Tày dùng các chữ cái và cách ghép vần của chữ quốc ngữ, về cơ bản quy tắc chính tả giống với chữ Quốc ngữ, tiếng Tày có bổ sung thêm một số âm mà chữ quốc ngữ không có như bj, pj, mj, phj, sl.
Bên cạnh đó cũng có một số điểm khác biệt giữa tiếng Tày và tiếng Việt mà chúng ta cần lưu ý trong quá trình học tiếng Tày, đọc và cảm nhận thơ viết bằng tiếng Tày. Tiếng Việt có thanh “ngã”, tiếng Tày không có thanh điệu này. Những từ tiếng Việt có thanh “ngã” được tiếng Tày vay mượn sẽ được phát âm thành thanh “nặng” hoặc thanh “sắc”. Tiếng Tày có thanh “lửng”, tiếng Việt không có thanh này.
Về phẩm chất ngữ âm của thanh “lửng” có thể nêu mấy nét cơ bản sau: Thanh có âm vực thấp, đường nét biến đổi không bằng phẳng: xuất phát điểm dưới mức trung bình, độ cao thấp dần, cực thấp ở khoảng giữa, sau đó cao độ nâng dần và kết thúc ở dưới mức trung bình. Đây là thanh điệu có đặc trưng biến đổi âm vực nằm ở khoảng trung gian giữa thanh hỏi và thanh huyền. Cho nên những người quen nói tiếng Việt khi nói hoặc học tiếng Tày thường tri nhận và thể hiện thanh lửng thành thanh hỏi hoặc thanh huyền. Một số chữ cái mà tiếng Kinh ít dùng thì tiếng Tày lại hay dùng như f (fầy, fạ…); j (phja Boóc, pja, phjắc…)…hoặc một số chữ cái đi liền nhau tạo thành âm tiết kép như oo (boóc, loỏng, noọng…); oô (lồng toồng); âư (nâư, tẩư…) thì ngôn ngữ Tày lại hay dùng một cách phổ biến.
Tiếng Tày tuy là một ngôn ngữ tương đối phát triển nhưng hiện nay vẫn tồn tại nhiều phương ngữ khác nhau. Đầu những năm 70 của thế kỷ 20, tổ ngôn ngữ của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội đã chủ trì đề tài nghiên cứu xác định vùng chuẩn của tiếng Tày - Nùng. Kết quả nghiên cứu này đã chỉ ra một khu vực tiếng Tày - Nùng có tính chất phổ biến nhất được coi là vùng chuẩn của tiếng Tày - Nùng gồm các vùng: Bảo Lạc, Na Hang, Chiêm hoá, Vị Xuyên, Bắc Quang, Bắc Mê còn giữ được nhiều nguyên bản. Hệ thống ngữ âm tiếng 13 c Tày - Nùng tồn tại ở địa bàn trong vùng tam giác Ba Bể - Hoà An - Đông Khê, Thất Khê.
Hình thức phát âm này đã được Đài phát Thanh khu Tự trị Việt Bắc cũ sử dụng trên làn sóng phát thanh. Sự khác biệt giữa các phương ngữ là điều tất nhiên, song sự khác biệt của tiếng Tày chủ yếu là về mặt ngữ âm. Cũng như tiếng Kinh trong Nam, ngoài Bắc, tiếng Tày ở Bắc Kạn cũng có 3 vùng nói giọng khác nhau, bản thân người Tày gọi là giọng nói mềm (ón), cứng (kheng) và nặng (nắc). Ví dụ: Khi phát âm hai từ thon thư (học chữ), vùng Bắc Bạch Thông và Ngân Sơn, Chợ Rã: slon slư; vùng thị xã Bắc Kạn, Na Rỳ, Chợ Đồn: thon thư; vùng Đông Nam Chợ Mới: ton tư.
Mặc dù vậy tiếng Tày ở các vùng đều căn bản đều có mối quan hệ gần gũi. Như vậy, trong quá trình phát triển người Tày đã và đang được bổ sung, sử dụng nhiều từ vựng thuộc nhóm Hán Việt và từ thuần Việt. Nhóm từ vựng trong hệ thống tiếng nói thống nhất của cả nước đã tạo thuận lợi cho người Tày phát triển ngôn ngữ.