CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN ĐỀ TÀI 1. Tổng quan về các công trình nghiên cứu Thin-film đã được nghiên cứu từ những năm đầu của thế kỷ 20, với các nghiên cứu ban đầu tập trung vào các hiện tượng cơ bản của lớp màng mỏng và các ứng dụng tiềm năng của chúng trong các lĩnh vực khoa học và công nghệ. Qua nhiều thập kỷ, công nghệ này đã không ngừng phát triển và cải tiến, mở rộng phạm vi ứng dụng từ các thiết bị điện tử và quang học đến năng lượng tái tạo. Nghiên cứu về Thin-film mang lại nhiều lợi ích và ứng dụng quan trọng trong các ngành công nghiệp khác nhau.
Thin-film có khả năng hoạt động hiệu quả trong điều kiện ánh sáng yếu, làm tăng tổng sản lượng điện năng lượng mặt trời sản xuất được. Bên cạnh đó, với tính linh hoạt và trọng lượng nhẹ, Thin-film có thể dễ dàng lắp đặt trên các bề mặt khác nhau, thậm chí là các bề mặt có hình dạng đặc biệt, phù hợp cho nhiều loại công trình kiến trúc khác nhau. Công nghệ này cũng có tiềm năng giảm chi phí sản xuất và lắp đặt so với các công nghệ điện mặt trời truyền thống. ❖ Các nghiên cứu trong nước Những năm trở lại đây, việc nghiên cứu về hệ thống điện NLMT sử dụng công nghệ Thin-film tại Việt Nam đang trở nên phổ biến, một số công trình đã được thực thi nhằm đánh giá tính khả dụng của việc phát triển và ứng dụng của công nghệ này tại Việt Nam.
Các cá nhân, tổ chức đang thực hiện nhiệm vụ khoa học tại các trường đại học, các viện chuyên sâu về học thuật đã thực hiện các dự án nhằm nắm bắt tiềm năng ứng dụng cũng như hạn chế của việc sử dụng các module màng mỏng Thin-film trong hệ thống điện NLMT. Nghiên cứu đầu tiên cho thấy khả năng ứng dụng của Thin-film trong điều kiện trong nước, đồng thời chỉ ra các yếu tố gây ảnh hưởng đến hiệu suất của Thin-film và từ đó đưa ra kết quả nhằm cải thiện hiệu suất của Thin-film [1]. Nghiên cứu thứ hai đã đánh giá độ linh hoạt và độ bền bỉ của các module màng mỏng Thin-film dựa trên khí hậu, môi trường cũng như là nhiệt độ ở Việt Nam [2]. Nghiên cứu cuối cùng đã nêu ra các vật liệu hiện có phù hợp với quy trình sản xuất về mặt kỹ thuật ở trong nước nhằm ứng dụng vào công nghệ Thin-film [3].
Tháng 09 & 10/2023, [4] SMBL đã hoàn thành dự án “Nghiên cứu và báo cáo khả thi về xây dựng tiêu chuẩn của tính năng cho module quang điện (PV) và tiêu chuẩn cho module quang điện tích hợp tòa nhà (BIPV)” cho Viện nghiên cứu hợp chuẩn Hàn Quốc. Dự án có sự tham gia, đóng góp chuyên môn từ Viện Tiêu Chuẩn Chất Lượng Việt Nam. Trong dự án này, SMBL cung cấp các dịch vụ như nghiên cứu thị trường, tổ chức hội nghị và lấy ý kiến từ các chuyên gia điện lực ở các Ban – Bộ – Ngành nhằm tạo điều kiện cho việc đầu tư của Hàn Quốc vào thị trường năng lượng tái tạo Việt Nam. Điểm mới trong dự án này đó là SMBL sẽ cung cấp các dịch vụ bao gồm nghiên cứu, thử 1 nghiệm và đánh giá tính khả thi của dự án nhằm xây dựng tiêu chuẩn về hệ thống tòa nhà tích hợp quang điện.
Một nghiên cứu trong nước khác được thực hiện bởi đại học điện lực. Trường hiện đang có nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành điện. Nghiên cứu cho thấy tính khả thi về ứng dụng Thin-film vào các tường kính mà không gây ảnh hưởng đến cấu trúc, kiến cấu của công trình. Hiệu quả cho thấy khả năng cách nhiệt, chống ồn, chống chói do ánh sáng chiếu trực tiếp vào là rất khả quan.
Đây cũng là dấu hiệu tích cực cho thấy sự chuyển mình của mức độ thâm nhập năng lượng sạch vào thị trường kinh tế điện Việt Nam [5]. Việc phát triển bền vững nguồn năng lượng trong lĩnh vực xây dựng rất có tiềm năng bằng cách tích hợp các tấm pin năng lượng mặt trời Thin- film vào các công trình cao tầng vách kính không chỉ giúp hạn chế lượng khí phát thải nhà kính mà còn tận dụng được nguồn năng lượng tái tạo trên diện tích lắp đặt tổng thể nhằm tối ưu hóa nguồn năng lượng và chi phí cho tòa nhà. Tuy nhiên vẫn còn một số vấn đề tồn đọng. Đầu tiên, BIPV cũng có tính độc hại của tế bào quang điện.
Điều này cũng đang là vấn đề đáng lo ngại khi vòng đời sử dụng kết thúc, việc tái chế sẽ gây ảnh hưởng đến môi trường. Thứ hai, tấm pin khá nặng nên hệ thống BIPV phụ thuộc vào kết cấu của công trình cho nên phải được thiết kế ngay từ đầu hoặc nếu như thực hiện trên công trình đã có sẵn thì chi phí đầu tư rất cao đó là chưa kể đến kết cấu của tòa nhà khi được lắp các khung, giá đỡ có chịu được hay không? Cuối cùng, BIPV có độ trong suốt nên khả năng hấp thụ năng lượng mặt trời thấp hơn so với tấm PV truyền thống việc này cũng ảnh hưởng đến hiệu suất chuyển đổi của tấm pin. Trần Quốc Tuấn, 2017, [6] Luận văn thạc sĩ : “Nghiên cứu hệ thống điện năng lượng mặt trời làm việc trong điều kiện có bóng che tức thời, không đồng đều”, luận văn trình bày một trong những nguyên nhân gây mất sản lượng của hệ thống PV là bóng che trên các tấm PV. Hiện tượng này xảy ra chủ yếu là do các cây cảnh, các công trình phụ xung quanh.
Đối với hệ thống NLMT với công suất nhỏ, hiện tượng gây bóng che không được quan tâm nhiều mặc dù chi phí đầu tư lớn trong khi hiệu quả thu được là không cao. Luận văn đã đề xuất phương án nhận dạng và giải quyết vấn đề bị bóng che trong cấu hình một tấm pin quang điện. Từ đó, kiểm tra sơ đồ để thu hút NLMT tối ưu từ một tấm PV nhằm phục vụ cho các ứng dụng DC. Hạn chế của luận văn vẫn còn làm sơ sài, chỉ làm trên một tấm pin quang điện trong khi đó trên thực tế đòi hỏi một hệ thống lớn hơn.
Đinh Ngọc Sang và các cộng sự, 2019 [7] đã giới thiệu hệ thống BIPV, bao gồm quá trình hình thành và phát triển của công nghệ này, những ưu và nhược điểm của công nghệ. Bài báo chỉ ra tiềm năng phát triển pin module màng mỏng (Thin-film) tại Việt Nam. Do Việt Nam là quốc gia nằm gần xích đạo có điều kiện ánh sáng tốt quanh năm. Bằng cách kết hợp ứng dụng áp mái truyền thống và tích hợp Thin-film ở phần thân.
Bài báo phân tích tiềm năng phát triển của năng lượng mặt trời, kèm theo đó với sự phát triển đô thị hóa đang diễn ra một cách mạnh mẽ tại Việt Nam. Bằng cách mô phỏng năng lượng của một mô hình nhà cấp 4 điển hình bằng phần mềm PVsyst, bài báo kết luận rằng Việt Nam có tiềm năng lớn trong việc ứng dụng Thin-film vào các tòa nhà cao tầng 2 vách kính đặc biệt là thương mại dịch vụ. Tuy nhiên nghiên cứu vẫn còn những hạn chế cần phải lưu ý đó là chi phí đầu tư cao, bao gồm chi phí tấm pin, chi phí lắp đặt. Việc lắp đặt trên bề mặt 90 độ đòi hỏi phải có hệ thống khung, giá đỡ phải chắc chắn.
Mặc khác, việc thi công thang máng cáp cũng phải thực hiện một cách chỉnh chu, tỷ mỉ để không ảnh hưởng đến kết cấu của tòa nhà. Bài báo được xuất bản năm 2019, vào thời điểm này nhà nước có chính sách mua bán điện dựa vào sản lượng phát ra của hệ thống điện NLMT. Chính vì vậy sản lượng điện được phát ra sẽ góp phần giúp cho chi phí tiền điện hằng tháng được giảm xuống với bối cảnh điện năng được tính theo bậc ở Việt Nam. ❖ Các nghiên cứu trên thế giới Trên thế giới, việc nghiên cứu hệ thống điện NLMT tích hợp công nghệ Thin-film đã và đang triển khai để đưa ra những cải tiến đột phá trong việc gia tăng hiệu suất và giảm thiểu phí sản xuất [8].
Các công trình này thường tập trung vào việc tìm kiếm các loại vật liệu thay thế mới với quy trình sản xuất tiên tiến hơn để tăng cường khả năng chuyển đổi năng lượng và tính di động của các tấm mặt trời Thin-film [9]. Đồng thời, nghiên cứu cũng cho thấy tính khả dụng của việc tích hợp hệ thống Thin-film vào các các tòa nhà thông minh [10], xe điện [11], nhằm chứng minh rằng tính khả thi của việc ứng dụng rộng rãi công nghệ này trên toàn cầu. Azhar Ghazali và các cộng sự, 2017 [12] đã nghiên cứu về bề mặt kính quang điện (PV) trên vỏ của một tòa nhà đô thị thực tế ở Malaysia. Kết quả cho thấy việc lắp đặt hệ thống PV trên kính có khả năng phát điện sạch nhằm đáp ứng được nhu cầu tải của tòa nhà và bảo vệ thời tiết.
Để đánh giá tính khả dụng của nghiên cứu, dựa vào cấu trúc của tòa nhà, sử dụng các hàm chi phí liên quan, chi phí xây dựng, lắp đặt công trình cho việc lắp đặt PV. Từ đó đưa ra lợi nhuận và thời gian thu hồi vốn của dự án, từ đó đưa ra câu trả lời cho nhà đầu tư là có nên đầu tư hay không? Nghiên cứu đưa ra 5 kịch bản thiết kế bao gồm các kịch bản lắp mái và thân vỏ của tòa nhà, pin lắp đặt trên mái là pin truyền thống, pin module màng mỏng Thin-film họ sử dụng là Heterojuntion Intrinsic có hiệu suất chuyển đổi là 15. So sánh với thực tế có thể thấy được việc sử dụng năng lượng mặt trời áp mái hằng năm chỉ sản xuất được khoảng 240MWh mỗi năm trong khi đó hệ thống được tích hợp Thin-film qua các mặt kính theo hướng thẳng đứng có thể đạt từ 400 – 700MWh trên một năm. Với những thông số được nêu trên, nghiên cứu cho thấy thời gian hoàn vốn là khoảng 12 năm.
Vì vậy, nghiên cứu mang lại thông điệp tích cực cho một tòa nhà xanh trong tương lại đặc biệt là ở Malaysia. Đây là một dấu hiệu cho thấy được sự quan tâm của thế giới về công nghệ BIPV đó là hiệu suất đã được cải thiện, pin sử dụng trong bài báo (2017) có hiệu suất 15.6% trong khi đó hiện tại trong luận văn sử dụng tấm pin có hiệu suất 18. Elena Generalova và các cộng sự, 2019 [13] đã đề xuất phương pháp tích hợp đầy hứa hẹn của Thin-film vào lớp vỏ của tòa nhà. Phương pháp này dựa trên phân tích cấu trúc, kiến trúc xây dựng của tòa nhà và phân tích các phương pháp hay nhất trên thế giới.