Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐỊNH TỘI DANH TỘI DÂM Ô ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 16 TUỔI THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi theo pháp luật hình sự Việt Nam 1. Khái niệm tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi Trong Bộ luật Hình sự Việt Nam, tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi được quy định trong chương các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người. Điều 146 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi như sau: “1.
Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà có hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi không nhằm mục đích giao cấu hoặc không nhằm thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác, …” [14, Điều 146].Dễ nhận thấy, so sánh với Bộ luật hình sự năm 1999, cụm từ “trẻ em” không còn được sử dụng trong BLHS năm 2015, thay vào đó, nhà làm luật đã chi tiết hóa độ tuổi của nhóm đối tượng này, đó là “người dưới 16 tuổi”. Ví dụ như tội hiếp dâm trẻ em (Điều 112) thành tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142); tội cưỡng dâm trẻ em (Điều 114) thành tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 144)… Như vậy, BLHS năm 2015 có sự tương thích với Luật Trẻ em năm 2016 khi thống nhất độ tuổi trẻ em là người dưới 16 tuổi. Tương tự, chủ thể là người đã thành niên trong các điều luật cũng được thay thế bằng “người đủ 18 tuổi” như tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 145); tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi (Điều 146). Việc quy định chi tiết độ tuổi của nạn nhân cũng như người thực hiện tội phạm đã giải quyết được những bất đồng quan điểm về khái niệm “trẻ em”, “người chưa thành niên”, “người đã thành niên” trong BLHS năm 1999.
7 Để đưa ra khái niệm tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi, chúng ta cần phải xuất phát từ khái niệm tội phạm quy định tại khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự” [14, Điều 8]. Nhà làm luật đã quy định cụ thể hơn hành vi dâm ô so với BLHS năm 1999, theo đó, hành vi dâm ô này phải “không nhằm mục đích giao cấu hoặc không nhằm thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác”. Tuy BLHS năm 2015 vẫn chưa làm rõ được khái niệm dâm ô nhưng theo Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP ngày 01 tháng 10 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định về một số tình tiết định tội của tội dâm ô như sau: “…3. Dâm ô quy định tại khoản 1 Điều 146 của Bộ luật Hình sự là hành vi của những người cùng giới tính hoặc khác giới tính tiếp xúc về thể chất trực tiếp hoặc gián tiếp qua lớp quần áo vào bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm, bộ phận khác trên cơ thể của người dưới 16 tuổi có tính chất tình dục nhưng không nhằm quan hệ tình dục, gồm một trong các hành vi sau đây: a) Dùng bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm tiếp xúc (ví dụ: đụng chạm, cọ xát, chà xát.) với bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm, bộ phận khác của người dưới 16 tuổi; b) Dùng bộ phận khác trên cơ thể (ví dụ: tay, chân, miệng, lưỡi.) tiếp xúc (ví dụ: vuốt ve, sờ, bóp, cấu véo, hôn, liếm.) với bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm của người dưới 16 tuổi; 8 c) Dùng dụng cụ tình dục tiếp xúc (ví dụ: đụng chạm, cọ xát, chà xát.) với bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm của người dưới 16 tuổi; d) Dụ dỗ, ép buộc người dưới 16 tuổi dùng bộ phận khác trên cơ thể của họ tiếp xúc (ví dụ: vuốt ve, sờ, bóp, cấu véo, hôn, liếm.) với bộ phận nhạy cảm của người phạm tội hoặc của người khác; đ) Các hành vi khác có tính chất tình dục nhưng không nhằm quan hệ tình dục (ví dụ: hôn vào miệng, cổ, tai, gáy.
của người dưới 16 tuổi). Từ những vấn đề nhận thức trên, tác giả khái niệm tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi được hiểu là: “Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi là hành vi nguy hiểm cho xã hội tiếp xúc về thể chất trực tiếp hoặc gián tiếp vào bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm, bộ phận khác trên cơ thể của người dưới 16 tuổi có tính chất tình dục nhưng không nhằm quan hệ tình dục xâm phạm nhân phẩm, danh dự người dưới 16 tuổi, do người từ đủ 18 tuổi trở lên không ở trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý”. Các dấu hiệu pháp lý của tội dâm ô đối với người dưới 6 tuổi Các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi bao gồm: Khách thể của tội phạm, mặt khách quan của tội phạm, chủ thể của tội phạm và mặt chủ quan của tội phạm. Khách thể của tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi Khách thể của tội phạm là những quyền và lợi ích được luật hình sự bảo vệ và bị các hành vi phạm tội xâm hại.
Khách thể của tội phạm là một trong những vấn đề trung tâm của khoa học luật hình sự. Khách thể của tội phạm là một phần không thể thiếu của bất kì tội phạm nào. Là hành vi nguy hiểm cho xã hội, nên bất kì một hành vi phạm tội nào cũng đều xâm hại đến khách thể chung, xâm hại đến một trong những quyền hoặc lợi ích nhất định được luật hình sự bảo vệ bằng cách xâm hại hoặc đe dọa xâm hại hại các 9 quyền, lợi ích đó. Những quyền, lợi ích được luật hình sự bảo vệ là: độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp khác của tổ chức, cá nhân.
Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi xâm phạm quyền được bảo vệ về thân thể, nhân phẩm, danh dự và sự phát triển bình thường về tâm sinh lý của trẻ em. Tại Điều 1 Luật Trẻ em năm 2016 quy định: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi” [18, Điều 1]. Đối tượng tác động của tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi là người dưới 16 tuổi không phân biệt quốc tịch,giới tính. Bên cạnh đó, người phạm tội còn phải chịu mức hình phạt nặng hơn khi đối tượng tác động là người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh.
Người có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh có thể là người giám hộ; cha mẹ nuôi, các thành viên khác trong gia đình có nghĩa vụ chăm sóc lẫn nhau; người hành nghề có nghĩa vụ khám, chữa bệnh; nhà giáo… 1. Mặt khách quan của tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện của tội phạm ra bên ngoài thế giới khách quan bao gồm hành vi khách quan, hậu quả nguy hiểm cho xã hội và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả gây ra. Ngoài ra, còn có một số dấu hiệu khác cũng thuộc mặt khách quan của tội phạm là hoàn cảnh, thời gian, công cụ, phương tiện phạm tội. Mặt khách quan là yếu tố quan trọng nhất của tội phạm: chỉ có hành vi được thực hiện trong thực tế khách quan mới là tội phạm; tính nguy hiểm của tội phạm chủ yếu do các yếu tố khách quan quyết định.
Mặt khách quan của tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi có các dấu hiệu đặc trưng sau: Thứ nhất, dấu hiệu hành vi Hành vi nguy hiểm cho xã hội là nội dung cơ bản nhất và được biểu hiện dưới hai hình thức: 10 - Hành động: là việc chủ thể làm một việc mà bị pháp luật cấm; - Không hành động: là việc chủ thể không làm một việc mà pháp luật yêu cầu phải làm, mặc dù có điều kiện để làm nhằm tránh nguy cơ gây thiệt hại cho xã hội. Trong Luật hình sự Việt Nam, hành vi khách quan của tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi là hành vi tiếp xúc về thể chất trực tiếp hoặc gián tiếp vào bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm, bộ phận khác trên cơ thể của người dưới 16 tuổi bao gồm một trong các hành vi sau đây: - Dùng bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm tiếp xúc (ví dụ: đụng chạm, cọ xát, chà xát.) với bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm, bộ phận khác của người dưới 16 tuổi; - Dùng bộ phận khác trên cơ thể (ví dụ: tay, chân, miệng, lưỡi.) tiếp xúc (ví dụ: vuốt ve, sờ, bóp, cấu véo, hôn, liếm.) với bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm của người dưới 16 tuổi; - Dùng dụng cụ tình dục tiếp xúc (ví dụ: đụng chạm, cọ xát, chà xát.) với bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm của người dưới 16 tuổi; - Dụ dỗ, ép buộc người dưới 16 tuổi dùng bộ phận khác trên cơ thể của họ tiếp xúc (ví dụ: vuốt ve, sờ, bóp, cấu véo, hôn, liếm.) với bộ phận nhạy cảm của người phạm tội hoặc của người khác; - Các hành vi khác có tính chất tình dục nhưng không nhằm quan hệ tình dục (ví dụ: hôn vào miệng, cổ, tai, gáy. của người dưới 16 tuổi). Bên cạnh đó, người phạm tội thực hiện hành vi dâm ô nhiều lần hoặc thực hiện hành vi dâm ô đối với nhiều người đều phải chịu trách nhiệm hình sự với khung hình phạt từ 03 năm đến 07 năm tù.
Thứ hai, dấu hiệu hậu quả Hậu quả của tội phạm là thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra cho quan hệ xã hội là khách thể bảo vệ của luật hình sự.