CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CÁC CÔNG TRÌNH CẤP NƯỚC SINH HOẠT NÔNG THÔN 1.1 Một số khái niệm, đặc điểm và vai trò hệ thống công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn 1.1 Các khái niệm - Khái niệm về hệ thống cấp nước sạch: Hệ thống cấp nước sạch là một hệ thống gồm các công trình khai thác, xử lý nước, mạng lưới đường ống cung cấp nước sạch đến nhiều hộ gia đình hoặc cụm dân cư sử dụng nước ở nông thôn và các công trình phụ trợ có liên quan; bao gồm các loại hình: cấp nước tự chảy, cấp nước sử dụng bơm động lực, cấp nước bằng công nghệ hồ treo (theo Điều 3, Thông tư 54/2013/TT-BTC ngày 04/5/2013 của Bộ tài chính quy định việc quản lý, sử dụng và khai thác công trình cấp nước sạch nông thôn tập trung). Trong phạm vi đề tài luận văn, hệ thống cấp nước sạch nông thôn chỉ những công trình cấp nước tập trung phục vụ cho các đối tượng tiêu dùng ở khu vực thuộc địa bàn nông thôn (các hộ dân, trường học, trạm y tế, UBND…). - Nước sạch nước sạch là khái niệm chung cho các loại nước dùng trong sinh hoạt, công nghiệp, công cộng. Hiện tại, theo quy định, nước sạch là nước đạt Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QC 01:2009/BYT và QC 02: 2009/BYT).
Tại Việt Nam, một thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến trong lĩnh vực cấp nước nông thôn đó là “Nước hợp vệ sinh”. Theo Quyết định số 2570/2012/QĐ- BNN ngày 22/10/2012 của Bộ Nông nghiệp và PTNT, Nước hợp vệ sinh là nước được sử dụng trực tiếp hoặc sau lọc thỏa mãn các yêu cầu chất lượng: không màu, không mùi, không vị lạ, không chứa thành phần có thể gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người, có thể dùng để ăn uống sau khi đun sôi. - Hiệu quả công tác quản lý các công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn: Là kết quả đạt được trong hoạt động quản lý sau một quá trình bắt đầu từ giai đoạn thực hiện dự án đến khi hoàn thiện đi vào vận hành, đảm bảo cung cấp nguồn nước sinh hoạt cho người dân theo kế hoạch đã đề ra.2 Đặc điểm hệ thống cấp nước sạch nông thôn - Về quy mô phục vụ: các công trình cấp nước tập trung nông thôn có quy mô phục vụ rất đa dạng, dao động từ 15 hộ tới 25.700 hộ (theo thống kê của Trung tâm Quốc gia Nước sạch và VSMTNT); - Về nguồn nước sử dụng: chủ yếu từ 2 nguồn chính, bao gồm nước mặt (sông, suối, khe, hồ thủy lợi…) và nước ngầm; - Về loại hình công trình cấp nước: loại hình công trình cấp nước chủ yếu đang áp dụng phổ biến là hệ thống cấp nước tự chảy (chủ yếu ở miền núi, vùng sâu, vùng xa) và hệ thống cấp nước sử dụng trạm bơm nước từ sông, hồ chứa và giếng khoan kết hợp với công nghệ lọc (chủ yếu ở khu vực đồng bằng, ven biển và một phần ở vùng trung du); - Về tổ chức quản lý, vận hành công trình: các công trình có thiết kế phức tạp và công suất lớn thường do các cơ quan có chuyên môn kỹ thuật đảm nhiệm công tác quản lý, khai thác; còn ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào miền núi, việc quản lý công trình chủ yếu dựa vào cộng đồng, thôn/bản.3 Vai trò của hệ thống cấp nước sạch nông thôn Tầm quan trọng của tài nguyên nước nói chung và hoạt động cung cấp nước sạch nói riêng không chỉ dừng lại trong phạm vi quốc gia, lãnh thổ mà còn là vấn đề mang tính khu vực và toàn cầu. Đây là một trong những nội dung quan trọng trong chương trình nghị sự của các tổ chức quốc tế, đã và đang thu hút sự quan tâm của toàn thế giới.
Vấn đề về cạn kiệt nguồn nước, tình trạng nước bị ô nhiễm, thiếu nước sạch ở một số nơi trên thế giới luôn là nội dung mang tính thời sự trên các phương tiện thông tin đại chúng. Lịch sử cho thấy thế giới đã từng chứng kiến những đại dịch cướp đi sinh mạng hàng ngàn người bởi nguồn nước bị ô nhiễm hay những khó khăn mà con người phải đối mặt khi nguồn nước khan hiếm, đặc biệt tại khu vực châu Phi và Trung Á. Theo báo cáo của Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc, nguồn nước sạch toàn cầu đang cạn kiệt. Nguyên nhân là do sự bùng nổ dân số, tình trạng ô nhiễm môi trường, việc khai thác nguồn nước dưới đất vượt mức cho phép.
7 Tuy là một quốc gia được đánh giá là có nguồn tài nguyên nước khá dồi dào nhưng Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ. Trong thời gian qua, chúng ta chứng kiến những hậu quả nghiêm trọng do thiếu nước sạch với việc xuất hiện của những "làng ung thư" ở Phú Thọ, Hải Phòng, Hưng Yên. Tình trạng nước nhiễm bẩn ở nhiều tỉnh/thành như Hà Nội, Đồng Nai, Bình Dương. đã trực tiếp ảnh hưởng đến cuộc sống, đến sức khoẻ, sự an toàn cá nhân và gây hoang mang trong dư luận xã hội.
Hiện mức độ ô nhiễm của các dòng sông Đáy - sông Nhuệ, sông Cầu và hạ lưu sông Đồng Nai - Sài Gòn. đang trong tình trạng báo động do tình trạng xả thải của các cơ sở công nghiệp và nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý. Do quá trình đô thị hóa tăng nhanh nên nhiều hồ nước tiềm ẩn khả năng tích luỹ ô nhiễm kim loại, các hợp chất hữu cơ ở rất nhiều nơi khiến cho nguồn nước mặt không sử dụng được. Nguồn nước dưới đất tại một số địa bàn miền Bắc, miền Trung và mới đây là ĐBSCL cũng đang bị ô nhiễm Asen (thạch tín) một cách trầm trọng.
Chất lượng nước không đảm bảo tiêu chuẩn quy định, nói cách khác là nước vượt hàm lượng tiêu chuẩn cho phép có thể dẫn đến những tác hại trước mắt cũng như lâu dài. Nếu như một số chất hoà tan vượt quá tiêu chuẩn có thể dẫn đến tử vong như Asen, thì một số chất không gây ngộ độc hay tử vong ngay mà có thể ảnh hưởng đến các thế hệ tiếp theo đó là Mangan hay Magiê. Lượng Amôniăc hay Sulphua vượt quá quy định sẽ gây mùi khó chịu và là môi trường tốt cho vi khuẩn E.Coli gây bệnh. Lượng sắt vượt quá quy định không chỉ làm hỏng quần áo khi giặt giũ mà còn làm hỏng các thiết bị liên quan, gây thiệt hại về sức khỏe và kinh tế cho người dân.
Tại khu vực nông thôn tại Việt Nam, do tác động của đô thị hóa và phát triển làng nghề nên vấn đề ô nhiễm môi trường và nguồn nước mặt ngày càng tăng cao, đem lại nhiều rủi ro cho sức khỏe của người dân và cộng đồng nông thôn. Việc sử dụng quá nhiều thuốc trừ sâu và phân bón hóa học gây tác động xấu tới nguồn nước mặt và nước ngầm tầng nông, ảnh hưởng tới chất lượng các nguồn nước sử dụng cho ăn uống và sinh hoạt của người dân nông thôn. Vì vậy, việc cung cấp nước sạch thông qua các hệ thống cấp nước tập trung với chất lượng nước đảm bảo đóng vai trò hết sức quan trọng, đảm bảo sức khoẻ cho các cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng và môi trường sạch sẽ. Các hệ thống cấp nước tập trung 8 nông thôn được xây dựng cũng góp phần cải thiện bộ mặt hạ tầng nông thôn, đóng góp vào công cuộc phát triển nông thôn mới và hiện đại hóa nông thôn ở Việt Nam.2 Nội dung công tác quản lý các công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn 1.1 Các chủ thể trong công tác quản lý công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn Công tác quản lý các công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn là quản lý các chủ thể liên quan đến việc cấp nước, nó bao gồm tất cả các lĩnh vực từ khi bắt đầu thực hiện dự án đến khi công trình đi vào khai thác vận hành.
Thông qua các chủ thể để làm rõ được “quản lý công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn là làm những gì ?”. Cụ thể các chủ thể trong công tác quản lý bao gồm: + Nguồn nước: Đây là một trong những chủ thể quan trọng do nó quyết định vị trí và tính khả thi của việc xây dựng công trình, công tác quản lý nhằm đảm bảo về chất lượng và lưu lượng nguồn nước trong toàn bộ quá trình. + Các công trình đầu mối, trạm cấp nước, hệ thống ống dẫn: Công tác quản lý cần bắt đầu từ khâu quản lý dự án sau đó khi hoàn thiện mới tiếp tục đến khâu quản lý vận hành; nhiệm vụ là để đảm bảo nước sinh hoạt cấp cho người dân sử dụng sau khi đã được xử lý đầy đủ các quy trình, nước cấp ra phải đạt lưu lượng đúng như thiết kế và phải là nước sạch. + Duy tu, sửa chữa thường xuyên công trình: Công tác bảo hành cho công trình cũng rất quan trọng, ngoài việc làm tăng tuổi thọ, tính bền vững cho công trình; nó còn mang lại nhiều hiệu quả tích cực: Thứ nhất là kích thích việc sử dụng nguồn nước máy trong các hộ gia đình, góp phần nâng cao sức khỏe người dân, ngoài ra chi phí bán nước tăng lên kéo theo hiệu quả về kinh tế.
Thứ hai là đảm bảo cung cấp nước được thường xuyên, không bị gián đoạn. Hệ thống đường ống duy tu thường xuyên sẽ không bị rò rỉ gây lãng phí nước, tránh được ngập úng và sạt lở đất. + Con người: Là chủ thế bắt buộc của tất cả hoạt động xuyên suốt toàn bộ quá trình. Quản lý tốt nguồn nhân lực là mấu chốt quyết định dẫn đến việc công trình cấp nước hoạt động có hiệu quả hay không.2 Phân cấp quản lý khai thác sử dụng công trình Theo quy định tại Thông tư 54/2013/TT-BTC về việc quản lý, sử dụng và khai thác công trình cấp nước sạch nông thôn tập trung, tùy theo điều kiện cụ thể về quy mô công trình, công nghệ cấp - xử lý nước, đặc điểm kinh tế - xã hội của từng địa phương, UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc TW sẽ quyết định giao công trình cho đơn vị quản lý khai thác sử dụng theo thứ tự ưu tiên như sau:i)đơn vị sự nghiệp công lập; ii)doanh nghiệp; iii) UBND xã và Hợp tác xã.
Theo quy định, việc phân cấp quản lý khai thác công trình phải đảm bảo đơn vị được phân cấp phải thuộc một trong các loại hình nêu trên và phải đảm bảo có đủ năng lực quản lý, vận hành và khai thác công trình.