Tổng quan nghiên cứu

Huyện Hạ Hòa là huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Phú Thọ với diện tích tự nhiên 341,5 km2 và dân số đạt hơn 108.000 người vào năm 2017. Mặc dù sở hữu mạng lưới sông ngòi phong phú với hơn 33,5 km lưu vực sông Thao chảy qua, địa phương này vẫn đối mặt với nhiều rào cản lớn trong phát triển hạ tầng kỹ thuật. Thu nhập bình quân đầu người chỉ đạt khoảng 24,5 triệu đồng/năm và tỷ lệ hộ nghèo từng ở mức 21,44% (năm 2016 giảm xuống còn 13,22%), dẫn đến khả năng tiếp cận và chi trả cho các dịch vụ tiện ích của người dân còn nhiều hạn chế.

Vấn đề cốt lõi được đặt ra là sự thiếu hụt nghiêm trọng về nguồn nước sinh hoạt đạt chuẩn cùng tình trạng suy giảm hiệu quả vận hành tại các công trình cấp nước tập trung nông thôn. Trong tổng số 09 công trình cấp nước đã đưa vào sử dụng trên địa bàn huyện, có tới 5 công trình hoạt động kém hiệu quả hoặc dừng hoạt động. Tỷ lệ thất thoát nước tại các trạm đo lường ở mức rất cao, dao động từ 24% đến 35%, trong khi số lượng hộ dân thực tế đấu nối sử dụng chỉ đạt từ 14% đến 50% so với công suất thiết kế ban đầu.

Mục tiêu nghiên cứu tập trung vào việc hệ thống hóa cơ sở lý luận, khảo sát toàn diện thực trạng quản lý vận hành các công trình cấp nước sạch tại 10 xã thuộc huyện Hạ Hòa giai đoạn 2015 - 2018, từ đó đề xuất các mô hình quản lý và giải pháp kinh tế - kỹ thuật mang tính bền vững. Ý nghĩa thực tiễn của công trình nhằm giảm tỷ lệ hao hụt nước xuống dưới 20%, tối ưu hóa 100% công suất thiết kế tại các trạm cấp nước, giải quyết bài toán an sinh cho hơn 3.000 hộ dân và trực tiếp đóng góp vào tiêu chí số 17 về môi trường trong Chương trình Mục tiêu quốc gia Xây dựng Nông thôn mới.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp giữa lý thuyết quản lý dịch vụ công ích và lý thuyết mô hình đối tác công - tư (PPP) trong phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn. Cơ chế phân cấp quản lý được tham chiếu chặt chẽ theo Thông tư 54/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính và Quyết định 131/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, quy định về chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư và khai thác công trình cấp nước sạch nông thôn tập trung.

Các khái niệm chuyên ngành nền tảng bao gồm:

  • Nước sạch nông thôn: Nguồn nước đáp ứng Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 01:2009/BYT và QCVN 02:2009/BYT của Bộ Y tế.
  • Nước hợp vệ sinh: Nguồn nước đạt tiêu chuẩn cảm quan và vi sinh theo Quyết định 2570/2012/QĐ-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
  • Hiệu quả công tác quản lý: Mức độ hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật từ giai đoạn nghiệm thu bàn giao đến giai đoạn vận hành thương mại, được xác định qua 4 cấu phần: tổ chức bộ máy, mức độ hoàn thiện kế hoạch, khả năng lãnh đạo và mức độ kiểm soát quá trình.
  • Cơ chế tài chính và định giá nước: Vận dụng Nghị định 117/2007/NĐ-CP và Nghị định 124/2011/NĐ-CP về nguyên tắc tính đúng, tính đủ chi phí sản xuất, kết hợp chính sách cấp bù giá của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nhằm bảo toàn vốn tái đầu tư.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo định kỳ giai đoạn 2015 - 2018 của Chi cục Thủy lợi tỉnh Phú Thọ, Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Hạ Hòa, kết hợp dữ liệu sơ cấp thu thập qua điều tra hiện trường. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 09 công trình cấp nước tập trung đang hoạt động và 01 dự án liên xã đang triển khai tại xã Bằng Giã (quy mô thiết kế 1.000 m3/ngày đêm).

Phương pháp chọn mẫu khảo sát kết hợp chọn mẫu định ngạch và phân tầng ngẫu nhiên, thực hiện phỏng vấn sâu 35 cán bộ quản lý cấp huyện, xã và lấy ý kiến khảo sát từ 150 hộ dân sử dụng nước tại các cụm dân cư đại diện. Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm đảm bảo tính bao quát, phản ánh chân thực các góc nhìn từ cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị vận hành và người thụ hưởng trực tiếp.

Phương pháp phân tích dữ liệu ứng dụng thống kê mô tả, phân tích so sánh đối chiếu giữa mô hình quản lý của Ủy ban nhân dân xã/Hợp tác xã tại Hạ Hòa với mô hình Doanh nghiệp tại hai huyện lân cận là Lâm Thao và Thanh Thủy. Đồng thời, tác giả áp dụng bộ tiêu chí đánh giá Chỉ số 8 theo Quyết định 2570/QĐ-BNN-TCTL để phân loại mức độ bền vững của từng trạm cấp nước theo thang điểm định lượng chuẩn hóa.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, hiệu suất khai thác thực tế so với công suất thiết kế tại các trạm cấp nước ở huyện Hạ Hòa đạt mức rất thấp. Công trình cấp nước khu 4 xã Động Lâm có thiết kế phục vụ 470 người nhưng thực tế chỉ cung cấp cho 70 người (đạt 14,89% công suất thiết kế). Tương tự, công trình trung tâm xã Vĩnh Chân thiết kế cấp nước cho 1.286 người nhưng chỉ có 496 người đấu nối (đạt 38,57%), công trình thị trấn Hạ Hòa 2 thiết kế 2.000 người nhưng thực tế phục vụ 950 người (đạt 47,5%).

Thứ hai, tỷ lệ thất thoát nước kỹ thuật và thương mại tại các công trình do xã quản lý ở mức báo động, dao động từ 24% đến 35%. Cụ thể, trạm cấp nước xã Vụ Cầu và xã Động Lâm có tỷ lệ hao hụt lên tới 35%, trạm thị trấn Hạ Hòa 2 hao hụt 34% trên tổng sản lượng sản xuất 228.960 m3/năm, trạm xã Hiền Lương thất thoát 30% trên tổng sản lượng 72.000 m3/năm.

Thứ ba, cơ cấu tổ chức và năng lực tài chính của các đơn vị quản lý hiện hành bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Toàn huyện có 55,56% số công trình (5/9 công trình) bị xếp loại hoạt động kém hiệu quả hoặc dừng hoạt động hoàn toàn (như công trình khu 6, 7, 8 xã Bằng Giã). Doanh thu từ tiền nước tại các trạm này không đủ bù đắp chi phí điện năng tiêu thụ và lương cho nhân công vận hành, dẫn đến tình trạng thiếu kinh phí duy tu định kỳ.

Thứ tư, khi so sánh đối chứng với các địa phương lân cận, mô hình Doanh nghiệp tư nhân quản lý vận hành mang lại hiệu quả vượt trội. Tại huyện Lâm Thao và Thanh Thủy, các công trình do doanh nghiệp tiếp quản như trạm Kinh Kệ (sản lượng 129.948 m3/năm) hay trạm Phượng Mao (sản lượng 26.730 m3/năm) đều duy trì tỷ lệ hao hụt nước ở mức rất thấp, chỉ từ 18% đến 20%, thấp hơn từ 10% đến 15% so với mô hình Ủy ban nhân dân xã tại Hạ Hòa.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm hiệu quả của các công trình bắt nguồn từ việc lựa chọn sai mô hình quản lý sau đầu tư. Phần lớn công trình được giao cho Ủy ban nhân dân xã hoặc Ban quản lý thôn kiêm nhiệm. Đội ngũ cán bộ vận hành thiếu chứng chỉ chuyên môn kỹ thuật về xử lý nước và bảo dưỡng máy bơm, đường ống. Hạ tầng mạng lưới sử dụng ống nhựa PVC chất lượng thấp, dễ nứt vỡ khi chịu áp lực hoặc khi có phương tiện giao thông qua lại, gây ra hiện tượng rò rỉ ngầm kéo dài không được phát hiện.

Bên cạnh đó, mức giá tiêu thụ nước sinh hoạt chưa được tính đúng, tính đủ theo khung quy định tại Nghị định 117/2007/NĐ-CP, đồng thời ngân sách địa phương thiếu cơ chế cấp bù giá an sinh kịp thời. Tâm lý người dân vùng nông thôn vẫn duy trì thói quen dùng nước giếng khoan, giếng đào truyền thống, dẫn đến tỷ lệ đấu nối mới tăng chậm.

Dữ liệu nghiên cứu được trực quan hóa thông qua biểu đồ cột so sánh tương quan tỷ lệ hao hụt giữa mô hình Hợp tác xã (28% - 35%) và mô hình Doanh nghiệp (18% - 20%), kết hợp bảng tổng hợp đối chiếu chênh lệch giữa công suất thiết kế và số hộ sử dụng thực tế. Bảng số liệu này minh chứng rõ nét rằng việc chuyển đổi mô hình quản lý sang khu vực tư nhân chuyên nghiệp là giải pháp mang tính sống còn để khôi phục công năng toàn hệ thống.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tái cơ cấu toàn diện mô hình tổ chức quản lý vận hành theo hướng xã hội hóa và hợp tác công - tư (PPP). Ủy ban nhân dân huyện Hạ Hòa phối hợp với Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Phú Thọ tổ chức đấu thầu hoặc đặt hàng chuyển giao các trạm cấp nước nông thôn tập trung cho các doanh nghiệp có đủ tư cách pháp nhân và năng lực kỹ thuật tiếp quản. Mục tiêu là giảm tỷ lệ thất thoát nước toàn huyện từ mức trên 30% hiện nay xuống dưới 20% trong giai đoạn 2019 - 2022.

Thứ hai, hoàn thiện cơ chế tài chính và ban hành biểu giá nước sạch nông thôn theo nguyên tắc tính đúng, tính đủ chi phí sản xuất kinh doanh theo Thông tư liên tịch 37/2014/TTLT-BNNPTNT-BTC-BKHĐT. Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ cần bố trí nguồn vốn ngân sách cấp bù phần chênh lệch giá cho các xã đặc biệt khó khăn trong quý II năm 2019, tạo điều kiện cho đơn vị cấp nước trích lập quỹ khấu hao tài sản cố định và chi trả lương thỏa đáng cho người lao động.

Thứ ba, nâng cấp kỹ thuật, cải tạo mạng lưới đường ống và thiết lập quy trình bảo trì tài sản định kỳ. Đơn vị quản lý vận hành cần tiến hành rà soát, thay thế các đoạn ống PVC cũ hỏng bằng ống nhựa HDPE chịu lực cao, lắp đặt 100% đồng hồ đo nước đạt chuẩn kiểm định tại các điểm cấp nước hộ gia đình. Giải pháp này giúp giảm thiểu 80% sự cố đứt gãy đường ống trong vòng 12 đến 24 tháng tới.

Thứ tư, đẩy mạnh công tác thông tin, giáo dục và truyền thông (IEC) về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn. Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Hạ Hòa cùng các đoàn thể cấp xã tăng cường tuyên truyền về nguy cơ ô nhiễm nguồn nước ngầm tầng nông và lợi ích của việc sử dụng nước sạch đạt chuẩn QCVN 02:2009/BYT. Mục tiêu phấn đấu nâng tỷ lệ hộ dân đấu nối sử dụng nước máy tại 10 xã lên mức trên 75% trong vòng 3 năm triển khai.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh và huyện (Sở Nông nghiệp và PTNT, Chi cục Thủy lợi tỉnh Phú Thọ, Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Hạ Hòa): Luận văn cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng và khung pháp lý thực tiễn để xây dựng quy hoạch cấp nước nông thôn giai đoạn 2020 - 2025, định hướng cơ chế phân cấp và ban hành chính sách cấp bù giá nước phù hợp với điều kiện kinh tế miền núi.

Thứ hai, các doanh nghiệp, hợp tác xã và nhà đầu tư trong lĩnh vực cấp nước sinh hoạt: Tài liệu cung cấp dữ liệu phân tích chi tiết về bài toán tài chính, suất đầu tư, phương án quản trị chi phí vận hành và bài học kinh nghiệm kiểm soát tỷ lệ thất thoát nước từ các mô hình thí điểm tại Phú Thọ.

Thứ ba, lãnh đạo Ủy ban nhân dân cấp xã và Ban quản lý các công trình cấp nước cơ sở: Luận văn đóng vai trò như cuốn cẩm nang hướng dẫn các quy trình kỹ thuật vận hành, lập kế hoạch bảo trì tài sản công và phương pháp truyền thông nâng cao tỷ lệ hộ dân sử dụng nước sạch.

Thứ tư, các giảng viên, học viên cao học và chuyên gia nghiên cứu ngành Quản lý kinh tế, Quản lý tài nguyên và Kỹ thuật công trình thủy lợi: Đề tài là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp đánh giá hiệu quả vận hành công trình hạ tầng công cộng nông thôn thông qua hệ thống chỉ số định lượng chuẩn mực.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tại sao các công trình cấp nước do Ủy ban nhân dân xã quản lý tại Hạ Hòa có tỷ lệ thất thoát nước lên tới 35%? Nguyên nhân chủ yếu do cán bộ kiêm nhiệm thiếu trình độ chuyên môn kỹ thuật về cấp thoát nước, không phát hiện kịp thời các điểm rò rỉ ngầm trên hệ thống ống PVC cũ kỹ. Thêm vào đó, việc thiếu kinh phí duy tu thường xuyên khiến các hư hại nhỏ tích tụ thành sự cố lớn làm thất thoát lưu lượng nước nghiêm trọng.

  2. Mô hình quản lý bằng Doanh nghiệp đem lại ưu thế vượt trội nào so với mô hình Ủy ban nhân dân xã? Mô hình doanh nghiệp vận hành theo cơ chế thị trường, sở hữu đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề và quy trình giám sát chặt chẽ. Đơn vị kinh doanh có động lực kiểm soát thất thoát nước (duy trì ở mức 18% - 20% như tại huyện Lâm Thao) để tối đa hóa doanh thu và đảm bảo chất lượng dịch vụ liên tục 24/7.

  3. Chương trình Nước sạch và Vệ sinh nông thôn dựa trên kết quả vay vốn WB đóng góp gì cho Hạ Hòa? Nguồn vốn vay từ Ngân hàng Thế giới (WB) chiếm tới 70% tổng ngân sách đầu tư cấp nước của tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn nghiên cứu. Nguồn lực này hỗ trợ huyện Hạ Hòa triển khai dự án cấp nước liên xã Bằng Giã với công suất 1.000 m3/ngày đêm, phục vụ nước sinh hoạt bền vững cho gần 3.000 hộ dân.

  4. Nguyên tắc tính đúng, tính đủ giá tiêu thụ nước sạch theo Nghị định 117/2007/NĐ-CP có ý nghĩa gì? Nguyên tắc này bảo đảm giá nước phản ánh đầy đủ các chi phí hợp lý gồm điện năng, hóa chất xử lý, nhân công, khấu hao tài sản và lợi nhuận định mức. Khi giá bán bù đắp được chi phí vận hành, đơn vị quản lý mới có nguồn tài chính tự chủ để bảo dưỡng hệ thống mà không tạo gánh nặng cho ngân sách nhà nước.

  5. Giải pháp nào nâng cao tỷ lệ hộ dân miền núi tự nguyện đấu nối sử dụng nước sạch tập trung? Cần kết hợp đồng bộ hai giải pháp: thực hiện các chiến dịch truyền thông IEC thay đổi nhận thức của người dân về bệnh tật do nguồn nước ô nhiễm, đồng thời áp dụng chính sách hỗ trợ chi phí lắp đặt đồng hồ ban đầu và linh hoạt các gói giá nước sinh hoạt phù hợp với mức thu nhập bình quân 24,5 triệu đồng/năm của địa phương.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản lý vận hành công trình cấp nước sạch nông thôn theo chuẩn Thông tư 54/2013/TT-BTC và các quy chuẩn quốc gia.
  • Bức tranh thực trạng tại huyện Hạ Hòa cho thấy 55,56% số trạm cấp nước hoạt động kém hiệu quả, tỷ lệ hao hụt nước cao ở mức 24% - 35% và phần lớn chưa đạt công suất thiết kế.
  • Nghiên cứu chứng minh tính ưu việt của mô hình quản lý doanh nghiệp giúp hạ tỷ lệ thất thoát nước xuống 18% - 20% so với mô hình xã quản lý.
  • Hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá gồm: tái cơ cấu mô hình tổ chức sang PPP, chuẩn hóa cơ chế giá nước, nâng cấp hạ tầng ống dẫn và tăng cường truyền thông cộng đồng.
  • Kế hoạch chuyển đổi cần được triển khai theo lộ trình từ năm 2019 đến năm 2022, ưu tiên thí điểm chuyển giao các trạm cấp nước lớn và hoàn thiện mạng lưới cấp nước liên xã.

Đóng góp khoa học cốt lõi của công trình là cung cấp luận cứ thực tiễn sắc bén, khẳng định tính tất yếu của việc chuyển dịch từ phương thức cung cấp dịch vụ công ích bao cấp sang mô hình dịch vụ thị trường chuyên nghiệp. Các nhà quản lý, doanh nghiệp và nhà nghiên cứu quan tâm đến mô hình quản lý hạ tầng nông thôn bền vững có thể tham khảo toàn văn công trình để ứng dụng vào thực tiễn địa phương.