Chương 1: Tổng quan về phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại các NHTM. Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại NHTMCP Công thương Việt Nam. Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại NHTMCP Công thương Việt Nam. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Đề tài “Phát Triển Dịch Vụ Ngân Hàng Điện Tử Tại Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Công Thương Việt Nam” là một nghiên cứu giúp hệ thống hóa và bổ sung về mặt lý thuyết cho các nghiên cứu trước.
Đồng thời nghiên cứu cũng có thể là tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu về phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại VietinBank sâu hơn. Ngoài ra, đề tài nghiên cứu này còn phát triển thang đo các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ NHĐT của khách hàng tại VietinBank bởi vì đây cũng là cơ sở cho việc phát triển dịch vụ NHĐT tại VietinBank. Qua đó, các nhà quản trị ngân hàng đặc biệt là ngân hàng Công thương nhận thấy được mức độ tác động của các yếu tố này để có những chiến lược phù hợp, tạo lợi thế cạnh tranh nhằm thu hút khách hàng và phát triển dịch vụ. 4 Chƣơng 1: Tổng quan về phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại các ngân hàng thƣơng mại 1.1 Tổng quan về dịch vụ ngân hàng điện tử 1.1 Khái niệm về dịch vụ ngân hàng điện tử Hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về dịch vụ ngân hàng điện tử.
Có quan niệm cho rằng dịch vụ NHĐT là dịch vụ của ngân hàng cho phép khách hàng có khả năng truy nhập từ xa nhằm thu thập thông tin, thực hiện các giao dịch thanh toán, tài chính dựa trên các tài khoản lưu ký tại ngân hàng và đăng ký sử dụng các dịch vụ mới (Trương Đức Bảo, 2003). Theo cách hiểu này, dịch vụ Ngân hàng điện tử chính là một hệ thống phần mềm vi tính cho phép khách hàng tìm hiểu hay sử dụng dịch vụ Ngân hàng thông qua việc kết nối mạng máy vi tính của mình với Ngân hàng. Theo quyết định của Ngân hàng Nhà nước số 35/2006/QĐ-NHNN ngày 31/7/2006 ban hành quy định về các nguyên tắc quản lý rủi ro trong hoạt động ngân hàng hiện đại thì “dịch vụ ngân hàng điện tử là dịch vụ ngân hàng được thực hiện qua các kênh phân phối điện tử. Trong đó kênh phân phối điện tử là hệ thống các phương tiện điện tử và quy trình tự động xử lý giao dịch được ngân hàng sử dụng để giao tiếp với khách hàng và cung ứng các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng cho khách hàng” Như vậy, qua các khái niệm đã nêu ở trên, dịch vụ ngân hàng điện tử có thể hiểu theo nghĩa trực quan đó là một loại dịch vụ ngân hàng được khách hàng thực hiện nhưng không phải đến quầy giao dịch gặp nhân viên ngân hàng.
Hiểu theo nghĩa rộng hơn đây là sự kết hợp giữa một số hoạt động dịch vụ ngân hàng truyền thống với công nghệ thông tin và điện tử viễn thông.2 Các giai đoạn phát triển của dịch vụ ngân hàng điện tử Kể từ khi Ngân hàng Wells Fargo - ngân hàng đầu tiên cung cấp dịch vụ ngân hàng qua mạng tại Mỹ vào năm 1989 - đến nay, trải qua rất nhiều tìm tòi, thử nghiệm, thành công cũng như thất bại trên con đường xây dựng một hệ thống NHĐT hoàn hảo, 5 phục vụ tốt nhất cho khách hàng thì tổng kết lại hệ thống NHĐT được phát triển qua các giai đoạn sau 1.1 Giai đoạn 1 : Quảng cáo trên Internet Đây là giai đoạn đơn giản nhất của ngân hàng điện tử. Hầu hết các ngân hàng đều bắt đầu xây dựng ngân hàng điện tử theo hình thái này bằng cách xây dựng một Website quảng cáo, trên đó đăng tải các thông tin về ngân hàng mình, các sản phẩm, dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cũng như các thông tin chỉ dẫn, liên lạc.Thực chất đây chỉ là kênh quảng cáo mới ngoài những kênh truyền thống như báo chí, truyền hình…và các giao dịch ngân hàng vẫn được thực hiện qua kênh phân phối truyền thống đó là các chi nhánh và phòng giao dịch.2 Giai đoạn 2: Tra cứu thông tin hay vấn tin tài khoản qua mạng Sau khi đã xây dựng một Website quảng cáo chứa đầy đủ thông tin cần thiết thì đến giai đoạn này ngân hàng sử dụng internet như một kênh phân phối mới cho những dịch vụ truyền thống như xem thông tin tài khoản, nhận giao dịch chứng khoán.Lúc này Internet đóng vai trò là dịch vụ cộng thêm để tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng trong việc kiểm tra các giao dịch tài chính đã thực hiện.3 Giai đoạn 3: Hoạt động ngân hàng qua Internet Trong hình thái này các xử lý cơ bản của ngân hàng ở cả khía cạnh khách hàng và người quản lý đều được tích hợp trên internet và các kênh phân phối khác. Giai đoạn này đánh dấu sự phát triển về sản phẩm dịch vụ cũng như chức năng của ngân hàng. Các sản phẩm được phân biệt theo nhu cầu và quan hệ với khách hàng.
Đồng thời sự phối hợp, chia sẻ dữ liệu giữa hội sở chính của các ngân hàng và chi nhánh cũng được thực hiện thông qua internet, mạng không dây giúp cho việc xử lý các yêu cầu của khách hàng nhanh chóng và chính xác hơn.4 Giai đoạn 4: Dịch vụ ngân hàng điện tử e-banking Đây chính là mô hình lý tưởng của một ngân hàng trực tuyến trong nền kinh tế thương mại điện tử. Thông qua sức mạnh của mạng toàn cầu, ngân hàng cung cấp đến 6 cho khách hàng những sản phẩm và dịch vụ tiện ích nhất bằng các kênh phân phối riêng biệt, đưa ra các giải pháp tài chính hiệu quả, khách hàng có thể thực hiện tất cả các giao dịch tài chính mà không cần đến quầy giao dịch của ngân hàng.3 Các loại hình dịch vụ ngân hàng điện tử 1.1 Call center Ngân hàng cung cấp một số đường dây điện thoại cố định để khách hàng khi gọi đến số điện thoại này, có thể yêu cầu nhân viên ngân hàng thực hiện một số giao dịch hoặc yêu cầu sự hỗ trợ, tư vấn về các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng. Với dịch vụ này, khách hàng được cung cấp thông tin nhanh, chính xác, linh hoạt, lại có được cảm giác giao dịch với nhân viên phục vụ thực thụ. Nhưng để thực hiện được dịch vụ Call centre, ngoài việc cung cấp một số đường dây điện thoại, ngân hàng còn cần có nhân viên trực đường dây điện thoại 24/24 giờ.2 Internet banking Kênh phân phối dịch vụ ngân hàng điện tử Internet là kênh cho phép khách hàng được đặt lệnh yêu cầu ngân hàng phục vụ mình thực hiện việc chuyển tiền, thanh toán, hoặc kiểm soát hoạt động của tài khoản cá nhân, tổ chức thông qua mạng internet.
Hầu hết các ngân hàng khi mới bắt đầu triển khai dịch vụ ngân hàng điện tử đều xây dựng một trang web của ngân hàng mình chỉ để cung cấp thông tin về sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng cho khách hàng. Phát triển hơn, các ngân hàng cung cấp các dịch vụ tiện ích trên trang web của mình như xem thông tin tài khoản, nhận thông tin giao dịch chứng khoán, thông tin thị trường ngoại hối… Kênh dịch vụ qua internet ngày càng được hoàn thiện, phát triển. Hiện nay qua mạng internet, các ngân hàng không chỉ dừng lại ở việc cung cấp thông tin về sản phẩm, dịch vụ ngân hàng, giúp khách hàng kiểm tra và quản lý tài khoản mà còn có thể cung cấp cho khách hàng các dịch vụ thanh toán, chuyển tiền trực tiếp.3 Phone banking 7 Ngân hàng cung cấp một số đường dây điện thoại cố định. Khách hàng có thể gọi vào các số điện thoại này để biết về thông tin sản phẩm dịch vụ ngân hàng cung cấp.
Đây là hệ thống trả lời tự động, hoạt động 24/24 giờ. Khách hàng bấm các phím trên bàn phím điện thoại theo mã do ngân hàng quy định để yêu cầu hệ thống trả lời các thông tin cần thiết. Hệ thống cũng tự động gửi fax khi khách hàng yêu cầu cho các loại thông tin nói trên. Như vậy khác với Call Centre, Phone banking là hệ thống trả lời tự động qua điện thoại nên việc cung cấp thông tin kém linh hoạt hơn.4 Mobile banking Đây là dịch vụ cho phép khách hàng thực hiện các giao dịch thông qua điện thoại di động mà không phải đến ngân hàng.
Khách hàng sử dụng điện thoại di động (số đã đăng ký với ngân hàng) nhắn tin theo mẫu của ngân hàng gửi đến số của tổng đài để thực hiện các giao dịch. Các giao dịch thanh toán có thể thực hiện qua Mobile Banking là các giao dịch có giá trị nhỏ như thanh toán tiền điện, nước, điện thoại, bảo hiểm… Muốn tham gia sử dụng dịch vụ moblie banking, khách hàng phải đăng ký để trở thành thành viên. Khách hàng cung cấp những thông tin cơ bản như: số điện thoại di động, số tài khoản cá nhân dùng trong thanh toán. Ngân hàng sẽ cấp cho khách hàng một mã số định danh (Identity-ID) và một mã số cá nhân (Personal Identity Number- PIN) để khách hàng xác nhận giao dịch thanh toán khi ngân hàng yêu cầu.
Sau khi hoàn tất các thủ tục cần thiết, khách hàng sẽ là thành viên chính thức và đủ điều kiện để sử dụng dịch vụ thanh toán mobile banking.5 Home banking Dịch vụ Home banking giúp khách hàng có thể thực hiện các giao dịch với ngân hàng thông qua mạng nội bộ do ngân hàng xây dựng riêng. Để sử dụng dịch vụ home banking, khách hàng phải đăng ký dịch vụ với ngân hàng để ngân hàng kết nối máy tính của khách hàng với hệ thống máy tính của ngân hàng, thiết lập mạng ảo riêng và bắt đầu thực hiện giao dịch.6 Kiosk banking Dịch vụ Kiosk Banking là dịch vụ ngân hàng ứng dụng công nghệ cao hướng tới việc phục vụ khách hàng với chất lượng cao và thuận tiện nhất. Trên đường phố các ngân hàng sẽ đặt các trạm làm việc có chứa các thiết bị ngân hàng giao dịch tự động với khách hàng có kết nối Internet tốc độ cao hoặc các mạng nội bộ của ngân hàng. Khách hàng sử dụng thiết bị máy tính ở trong trạm để truy cập vào trang web của Ngân hàng, nhập mã sử dụng (User name) và mật khẩu truy cập (Password), hoặc cho thẻ vào máy rồi nhập mã pin và bắt đầu tiến hành các giao dịch như: xem lịch sử các giao dịch qua tài khoản, thanh toán hoá đơn, chuyển khoản, cập nhật các thông tin về các sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng đang cung cấp.2 Phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử 1.