Tổng quan nghiên cứu
Trải qua hơn 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới, nền công nghiệp Việt Nam đã đạt được những bước tăng trưởng ấn tượng nhưng tỷ lệ nội địa hóa của nhiều ngành sản xuất chủ lực vẫn chỉ dao động ở mức 15% đến 30%. Thực trạng này phản ánh sự phát triển non trẻ, thiếu đồng bộ của hệ thống công nghiệp phụ trợ trong nước, tạo ra điểm nghẽn lớn khi hơn 80% linh phụ kiện phục vụ sản xuất xuất khẩu vẫn phải phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm được đặt ra là làm thế nào để giải quyết mâu thuẫn giữa yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với hình thành nền kinh tế tri thức và năng lực sản xuất thực tế còn hạn chế của các doanh nghiệp phụ trợ nội địa.
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Kinh tế chính trị của tác giả Nguyễn Thị Hương, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Phạm Quang Phan tại Trường Đại học Kinh tế thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, hướng đến mục tiêu hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá khách quan thực trạng phát triển công nghiệp phụ trợ trong mối quan hệ hữu cơ với kinh tế tri thức. Trên cơ sở đó, công trình đề xuất hệ thống giải pháp mang tính chiến lược và khả thi nhằm phát triển mạng lưới công nghiệp phụ trợ Việt Nam giai đoạn đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào không gian kinh tế Việt Nam với trọng tâm khảo sát tại 3 phân ngành công nghiệp chủ lực gồm cơ khí chế tạo, điện tử và dệt may trong khung thời gian từ năm 2007 đến năm 2014, gắn liền với các mốc pháp lý quan trọng như Quyết định 12/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Ý nghĩa nghiên cứu thể hiện rõ qua việc cung cấp luận cứ khoa học để nâng cao giá trị gia tăng nội địa thêm 20% đến 35%, tạo việc làm kỹ thuật cao cho hàng vạn lao động và gia tăng sức cạnh tranh quốc gia trước áp lực mở cửa thị trường hoàn toàn từ năm 2018.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý luận phân công lao động xã hội của Chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp tư tưởng Hồ Chí Minh và các chủ trương lớn của Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Luận văn vận dụng lý thuyết mạng lưới sản xuất toàn cầu và mô hình chuỗi cung ứng đa tầng của Abonyi G. để phân tích cấu trúc 4 cấp bậc của công nghiệp phụ trợ (từ nhà cung ứng cấp 1 nắm giữ bí quyết công nghệ cốt lõi đến các nhà cung ứng cấp 2, 3 và 4 chuyên về gia công linh kiện đơn giản, chi tiết phụ trợ và dịch vụ đóng gói).
Khung lý thuyết của công trình làm rõ 4 khái niệm trung tâm: công nghiệp phụ trợ, kinh tế tri thức, tỷ lệ nội địa hóa và liên kết chuỗi giá trị. Kinh tế tri thức được tiếp cận theo chuẩn quốc tế với 4 trụ cột cơ bản: thể chế kinh tế thuận lợi, nguồn nhân lực chất lượng cao, hạ tầng thông tin hiện đại và hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia. Mối quan hệ giữa công nghiệp phụ trợ và kinh tế tri thức là mối quan hệ tương hỗ hai chiều: kinh tế tri thức tạo nền tảng công nghệ và nhân lực cho công nghiệp phụ trợ, ngược lại công nghiệp phụ trợ phát triển là môi trường ứng dụng thực tế để tri thức công nghệ chuyển hóa thành giá trị thặng dư trong 7 nhóm ngành sản xuất cơ bản.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu của luận văn tích hợp giữa nguồn dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2007 - 2013 do Tổng cục Thống kê, Bộ Công Thương, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) và Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản (JETRO) công bố, cùng với nguồn dữ liệu khảo sát thực tế từ hơn 250 doanh nghiệp sản xuất lắp ráp và cung ứng phụ trợ tại các vùng kinh tế trọng điểm.
Về phương pháp phân tích, tác giả kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp trừu tượng hóa khoa học với các công cụ phân tích định lượng, thống kê mô tả, so sánh đối chiếu và tổng hợp logic - lịch sử. Nghiên cứu thực hiện phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích với quy mô 250 doanh nghiệp nhằm đảm bảo độ tin cậy và tính đại diện cao cho cấu trúc ngành, trong đó hơn 95% là các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Việc lựa chọn phương pháp phân tích này giúp làm rõ các nhân tố ảnh hưởng từ chính sách vĩ mô, năng lực hấp thu công nghệ đến hành vi liên kết kinh doanh của doanh nghiệp trong suốt timeline nghiên cứu từ năm 2007 đến năm 2014.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, số lượng doanh nghiệp công nghiệp phụ trợ Việt Nam tuy có xu hướng gia tăng nhưng quy mô nhìn chung còn rất nhỏ bé. Hơn 90% số doanh nghiệp phụ trợ thuộc khối doanh nghiệp nhỏ và vừa, có mức vốn đăng ký bình quân dưới 10 tỷ đồng và quy mô lao động phổ biến dưới 100 người mỗi cơ sở, dẫn đến khả năng tích tụ vốn và mở rộng quy mô sản xuất bị hạn chế nghiêm trọng.
Thứ hai, trình độ công nghệ và năng lực hấp thụ tri thức của các doanh nghiệp phụ trợ nội địa còn nhiều bất cập. Tỷ lệ chi phí dành cho hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) của các doanh nghiệp chỉ chiếm dưới 0,5% tổng doanh thu hàng năm. Phần lớn trang thiết bị sản xuất chậm đổi mới, lạc hậu từ 2 đến 3 thế hệ công nghệ so với các nước trong khu vực Đông Á như Thái Lan hay Malaysia.
Thứ ba, tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm của các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ở mức rất khiêm tốn. Ngành cơ khí chế tạo chỉ đạt tỷ lệ nội địa hóa khoảng 15% đến 25%, ngành sản xuất và lắp ráp điện tử đạt mức dưới 20%. Mặc dù ngành dệt may có tỷ lệ nội địa hóa đạt trên 45% nhưng giá trị gia tăng nội địa chủ yếu tập trung ở khâu gia công cắt may giản đơn, trong khi hơn 70% vải và phụ liệu kỹ thuật cao vẫn phải nhập khẩu.
Thứ tư, mối liên kết dọc giữa doanh nghiệp phụ trợ trong nước với các tập đoàn đa quốc gia có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) còn rất lỏng lẻo. Chưa đến 15% doanh nghiệp nội địa đủ tiêu chuẩn tham gia vào mạng lưới cung ứng cấp 1 và cấp 2 của các tập đoàn sản xuất toàn cầu đang hoạt động tại Việt Nam.
+-----------------------------------------------------------------------+
| Tier 1: Nhà cung cấp cấp 1 (Thiết kế, R&D, linh kiện cốt lõi) |
| -> Doanh nghiệp FDI nắm giữ ~85%, Doanh nghiệp Việt Nam ~15% |
+-----------------------------------------------------------------------+
| Tier 2: Nhà cung cấp cấp 2 (Linh kiện đúc, dập, ép nhựa chính xác) |
| -> Doanh nghiệp FDI nắm giữ ~70%, Doanh nghiệp Việt Nam ~30% |
+-----------------------------------------------------------------------+
| Tier 3 & 4: Gia công thô, bao bì đóng gói, vật tư tiêu hao |
| -> Doanh nghiệp Việt Nam chiếm tỷ trọng chủ yếu (>80%) |
+-----------------------------------------------------------------------+
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân cốt lõi của các hạn chế trên xuất phát từ môi trường thể chế pháp lý chưa thực sự đồng bộ; hệ thống cơ chế ưu đãi về thuế, đất đai và tiếp cận vốn vay tín dụng trung dài hạn chưa đủ sức hấp dẫn doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực có chu kỳ hoàn vốn dài như công nghiệp phụ trợ. Mặt khác, đặc thù máy móc phục vụ công nghiệp hỗ trợ đòi hỏi tính nguyên khối, chi phí đầu tư ban đầu rất cao nên các doanh nghiệp nhỏ và vừa không thể tự phân kỳ đầu tư nếu thiếu sự bảo lãnh tín dụng từ Nhà nước.
So sánh với bài học thành công từ Nhật Bản ở thập niên 1960 hay Thái Lan trong chiến lược liên kết công nghiệp từ năm 1990, có thể thấy Việt Nam khởi động muộn hơn gần 20 năm và còn thiếu các cụm liên kết ngành chuyên sâu. Khi trình bày dữ liệu qua bảng phân tích tương quan năng lực công nghệ và sơ đồ tháp cung ứng 4 tầng, kết quả thảo luận khẳng định các doanh nghiệp phụ trợ Việt Nam đang bị dồn ứ ở đáy tháp với các sản phẩm hàm lượng tri thức thấp, tạo ra giá trị gia tăng ít ỏi và chịu mức độ rủi ro cạnh tranh rất cao.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, hoàn thiện khung chính sách và môi trường pháp lý chuyên biệt. Chính phủ cùng Bộ Công Thương cần sớm ban hành Nghị định về phát triển công nghiệp hỗ trợ trong giai đoạn 2015 - 2016, quy định rõ ràng danh mục sản phẩm mũi nhọn được ưu đãi, áp dụng mức giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp trong 4 năm đầu và miễn thuế nhập khẩu đối với máy móc, dây chuyền công nghệ cao không thể sản xuất trong nước.
Thứ hai, thiết lập cơ chế tài chính và bảo lãnh tín dụng đầu tư. Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo các ngân hàng thương mại dành gói tín dụng ưu đãi với lãi suất thấp hơn từ 2% đến 3% so với lãi suất thị trường cho các dự án công nghiệp phụ trợ cơ khí và điện tử; đồng thời trích tối thiểu 10% đến 15% nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và quỹ xúc tiến phát triển doanh nghiệp để hỗ trợ đổi mới thiết bị giai đoạn 2015 - 2020.
Thứ ba, đẩy mạnh đầu tư cho khoa học công nghệ và hoạt động nghiên cứu phát triển. Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp với Bộ Tài chính cho phép doanh nghiệp công nghiệp phụ trợ trích tối đa 10% thu nhập tính thuế hàng năm để lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp; quy hoạch và đưa vào vận hành 3 Trung tâm kỹ thuật hỗ trợ phát triển công nghiệp phụ trợ tại 3 miền Bắc, Trung, Nam trước năm 2018.
Thứ tư, đổi mới căn bản chương trình đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật chất lượng cao. Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với các trường đại học kỹ thuật, viện nghiên cứu mở rộng liên kết đào tạo theo đơn đặt hàng của các tập đoàn FDI, đặt mục tiêu đào tạo 50.000 kỹ sư thực hành và thợ bậc cao trong giai đoạn 2015 - 2020; đồng thời cấp học bổng tài trợ cho khoảng 500 chuyên gia kỹ thuật đi tu nghiệp chuyên sâu tại các quốc gia công nghiệp phát triển.
Thứ năm, quy hoạch và xây dựng các khu công nghiệp phụ trợ chuyên biệt. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố thuộc vùng kinh tế trọng điểm cần quy hoạch quỹ đất sạch, phát triển hạ tầng kỹ thuật đồng bộ để hình thành các cụm công nghiệp hỗ trợ dệt may, linh kiện điện tử và cơ khí chính xác, phấn đấu nâng tỷ lệ nội địa hóa toàn ngành công nghiệp lên mức 40% đến 45% vào năm 2020.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nhóm cơ quan quản lý và hoạch định chính sách vĩ mô gồm Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính có thể khai thác các luận cứ khoa học trong luận văn để hoàn thiện các dự thảo luật, nghị định và chương trình mục tiêu quốc gia phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn đến năm 2020 và tầm nhìn 2030.
Nhóm lãnh đạo doanh nghiệp và hiệp hội ngành nghề như Hiệp hội Doanh nghiệp Cơ khí Việt Nam (VAMI), Hiệp hội Doanh nghiệp Điện tử Việt Nam (VEIA) và Hiệp hội Dệt May Việt Nam (VITAS) có thể sử dụng mô hình chuỗi cung ứng 4 tầng được hệ thống trong luận văn để xây dựng chiến lược liên kết sản xuất, đàm phán hợp đồng cung ứng với các tập đoàn FDI và xác định lộ trình đầu tư công nghệ tối ưu.
Nhóm giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên các trường đại học khối kinh tế, quản trị kinh doanh và kỹ thuật công nghiệp có thể sử dụng công trình như một tài liệu học tập, nghiên cứu chuyên khảo có giá trị về kinh tế chính trị học và quản lý kinh tế hiện đại.
Nhóm các tổ chức quốc tế và nhà đầu tư nước ngoài như JICA, JETRO, Ngân hàng Thế giới cùng các quỹ đầu tư có thể tham khảo nguồn số liệu khảo sát thực chứng của hơn 250 doanh nghiệp trong luận văn để đánh giá tiềm năng thị trường, từ đó hoạch định các dự án hỗ trợ kỹ thuật và liên doanh chuyển giao công nghệ tại 3 phân ngành công nghiệp trọng điểm của Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao phát triển công nghiệp phụ trợ là điều kiện tiên quyết để hình thành nền kinh tế tri thức tại Việt Nam?
Công nghiệp phụ trợ đóng vai trò là bệ đỡ kỹ thuật tiếp nhận chuyển giao công nghệ từ các tập đoàn toàn cầu. Nếu không có hệ thống doanh nghiệp phụ trợ đủ năng lực sản xuất linh kiện chính xác, các thành tựu khoa học kỹ thuật không thể ứng dụng vào dây chuyền sản xuất thực tế, khiến nền kinh tế dừng lại ở mức gia công lắp ráp với tỷ lệ giá trị gia tăng dưới 20%.
Đâu là rào cản lớn nhất khiến doanh nghiệp phụ trợ Việt Nam khó tham gia vào chuỗi cung ứng cấp 1 của các tập đoàn FDI?
Rào cản lớn nhất nằm ở sự thiếu hụt nguồn vốn đầu tư công nghệ đồng bộ và quy chuẩn quản trị chất lượng quốc tế. Hơn 90% doanh nghiệp trong nước có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng, chi phí đầu tư cho R&D dưới 0,5% doanh thu nên không đáp ứng được các đơn hàng quy mô lớn với yêu cầu dung sai kỹ thuật khắt khe của các nhà lắp ráp toàn cầu.
Cơ chế trích lập quỹ R&D từ doanh thu mang lại lợi ích cụ thể gì cho doanh nghiệp phụ trợ?
Cơ chế cho phép trích lập tới 10% thu nhập tính thuế để tái đầu tư vào công nghệ giúp doanh nghiệp giảm trực tiếp gánh nặng thuế thu nhập, chủ động mua sắm bản quyền sáng chế, phần mềm thiết kế và thuê chuyên gia kỹ thuật cao, từ đó rút ngắn chu kỳ đổi mới công nghệ từ 2 đến 3 năm so với trước.
Mô hình mạng lưới cung ứng 4 tầng được ứng dụng như thế nào trong ngành cơ khí chế tạo và điện tử?
Mô hình phân tầng giúp phân định rõ vai trò: tầng 1 sản xuất linh kiện cốt lõi như động cơ, vi mạch; tầng 2 gia công cụm chi tiết đúc dập chính xác; tầng 3 cung ứng linh kiện tiêu chuẩn rời rạc; tầng 4 cung cấp vật tư phụ trợ và bao bì. Sự phân định này giúp các doanh nghiệp nhỏ xác định chính xác năng lực để tham gia phù hợp.
Những ngành công nghiệp phụ trợ nào được định hướng ưu tiên phát triển mũi nhọn đến năm 2020 và 2030?
Có 5 phân ngành chủ lực được Chính phủ và luận văn xác định ưu tiên gồm: công nghiệp phụ trợ ngành cơ khí chế tạo, điện tử - tin học, sản xuất lắp ráp ô tô, dệt may và da giày, hướng đến mục tiêu đạt tỷ lệ nội địa hóa từ 40% đến 45% vào năm 2020.
Kết luận
- Công nghiệp phụ trợ là nền tảng cốt lõi quyết định sự thành bại của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và là mắt xích trực tiếp chuyển hóa các thành tựu kinh tế tri thức vào đời sống sản xuất công nghiệp Việt Nam.
- Thực trạng công nghiệp phụ trợ Việt Nam trong giai đoạn 2007 - 2014 bộc lộ rõ tính tự phát, quy mô vốn nhỏ bé với hơn 90% là doanh nghiệp nhỏ và vừa, tỷ lệ nội địa hóa nhiều ngành còn dưới 25%.
- Mối liên kết giữa khu vực doanh nghiệp trong nước và khối doanh nghiệp FDI còn rất hạn chế, đòi hỏi Nhà nước phải đóng vai trò kiến tạo thông qua các cơ chế ưu đãi thuế, đất đai và bảo lãnh tín dụng đầu tư dài hạn.
- Cần khẩn trương triển khai đồng bộ 5 nhóm giải pháp về thể chế, tài chính, khoa học công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và quy hoạch cụm liên kết ngành chuyên sâu trong giai đoạn 2015 - 2020.
- Mục tiêu chiến lược đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 là nâng tỷ lệ nội địa hóa toàn ngành lên mức 40% đến 45%, đưa công nghiệp phụ trợ Việt Nam tham gia sâu rộng vào mạng lưới sản xuất toàn cầu.
Đóng góp khoa học lớn nhất của luận văn là đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận kinh tế chính trị về mối liên hệ hữu cơ giữa công nghiệp phụ trợ và kinh tế tri thức, cung cấp bức tranh thực chứng toàn diện tại 3 ngành trọng điểm và phác thảo lộ trình chính sách khả thi cho giai đoạn 2015 - 2020. Để biến các mục tiêu trên thành hiện thực, các cơ quan quản lý nhà nước cùng cộng đồng doanh nghiệp cần hành động quyết liệt ngay từ hôm nay nhằm tạo bước đột phá vững chắc cho nền công nghiệp nước nhà.